Forum Home Your IP: 54.224.11.137

Kết quả 1 đến 8 của 8

Chủ đề: Lịch sử ra đời và phát triển của đàn Guitar cổ điển

  1. #1
    HungMusic_NT's Avatar
    Ngày tham gia
    11-01-2011
    Đang ở
    ♫ Khánh Hòa ♫
    Bài viết
    4,799
    Thanks
    14,792
    Được THANKS 24,250 lần

    Lịch sử ra đời và phát triển của đàn Guitar cổ điển

    Guitar cổ điển




    Anh: Classical Guitar; Pháp: Guitare Classique; Đức: Klassische Gitarre; Ý: Chitarra Classica; TBN: Guitarra Clásica; phiên âm tiếng Việt: Ghi-ta cổ điển
    I. Sơ lược về đàn guitar cổ điển: Guitar cổ điển thuộc họ các nhạc cụ được gọi chung với cái tên là “chordophone” (gồm có cả harp, lute, lyre, zither…), thường có 6 dây. Nó được chơi bằng cách gảy các ngón trên những dây đàn, và có thể chơi giai điệu, hòa âm cũng như phức điệu.

    Cái tên guitar cổ điển không nghĩa rằng chỉ những tác phẩm cổ điển mới chơi trên nó. Nhạc cổ điển là một phần chính trong vốn tiết mục của nhạc cụ này, ngoài ra nó còn có thể chơi nhiều thể loại khác như folk, alternative, jazz, flamenco…

    II. Lịch sử hình thành của guitar cổ điển:
    1. Một số giả thuyết về sự ra đời:


    Hiện nay vẫn còn có rất nhiều tranh cãi về nguồn gốc ra đời của cây đàn guitar. Dưới đây là một số quan điểm chính:

    - Vùng Cận Đông: Một số nhà khảo cổ học khẳng định rằng guitar đã ra đời tại vùng Cận Đông. Ở đó, họ đã tìm thấy những bằng chứng và tuyên bố rằng đó là những cột mốc, nơi cây đàn guitar đầu tiên đã được ra đời.

    Trong số những mẫu vật khai quật được tai Babylonia, hầu hết đều có liên quan tới giai đoạn 1900-1800 trước Công nguyên. Chúng đều mang dáng vẻ của một loại nhạc cụ, và một vài trong số đó mang dáng dấp của một chiếc guitar.

    Loại nhạc cụ này có thể phân biệt được giữa phần thân và phần cần đàn. Mặt sau của nó là một bản phẳng; kiểu dáng như vậy rõ ràng có thể tì được vào ngực của người chơi. Với hình dáng như vậy thường thì bàn tay phải sẽ là tay gảy. Số dây đàn không may không thể xác định một cách chính xác, nhưng theo những tư liệu tìm được, nó có ít nhất là hai dây. Những dấu tích của cây đàn guitar đã được ghi chép tại Assyria, Susa (thành phố cổ ở phía Bắc của vịnh Ba Tư), và Luristan.

    - Malaga (Tây Ban Nha): Người ta cho rằng Tây Ban Nha chính là cội nguồn của cây đàn guitar. Thực tế không có một dấu vết rõ rệt nào của cây đàn guitar ở đây vào giai đoạn trước thế kỷ thứ 15. Nhiều khả năng guitar đã được làm ra bởi những con người sống tại Malaga. Cây đàn ban đầu tương đối nhỏ và có bốn dây đôi.


    2. Thời kỳ Trung Cổ:


    Người Châu Âu lần đầu tiên được biết tới loại nhạc cụ dây mà nguồn gốc của nó được cho rằng bắt đầu từ thế kỷ thứ 3 sau Công Nguyên,. Loại nhạc cụ tại thời điểm này có thân thuôn tròn về phía cần đàn. Cũng có sự miêu tả về loại nhạc cụ này cùng thời điểm của triều đại Carolingian.

    Nhạc cụ thuộc triều đại Carolingian có hình chữ nhật, có chiều dài gần bằng cần đàn, phần cuối nhô cao hơn và có gắn những khóa nhỏ để mắc những sợi dây vào. Trong một số bức hình minh họa, nó có bốn cái khóa, và trong những cái khác, lại là năm. Số dây đàn cũng tương ứng với số khóa, và chơi được bằng hai cách: chơi bằng móng gảy hoặc bằng ngón tay. Hình dáng những nhạc cụ này được giữ nguyên mãi đến thế kỷ thứ 14.

    Cùng thời điểm này, cũng có những nhạc cụ khác bắt đầu tồn tại song hành cùng kiểu dáng với cây đàn ở triều đại Carolingian. Chiếc thùng đàn ở những nhạc cụ mới này bị thay đổi về hình dạng, những cạnh thẳng của nó giờ đây nhường chỗ cho những đường cong thanh mảnh. Đặc điểm tiêu biểu của loại nhạc cụ mới này có thể tìm thấy tại một vài nhà thờ tại Anh. Sự miêu tả hình dáng cây đàn guitar cũng được tìm thấy tại những nhà thờ ở Pháp và Tây Ban Nha trước thế kỷ 14.

    Guitarra Latina and Guitarra Morisca:


    Ở đây có những nét tương đối khác biệt giữa Guitarra Morisca và Guitarra Latina. Cây đàn Guitarra Morisca được đem đến bởi người Moors (những người Ả rập sống ở vùng Bắc Phi, bao gồm cả Ma-rốc ngày nay), có lẽ vì thế nó mang tên là Guitarra Morisca (F. Tarrega sau này cũng sáng tác một bản nhạc rất hay, nó mang cái tên Danza Mora). Đó là một nhạc cụ hình oval, gồm nhiều lỗ thoát âm. Những người Ả rập, trên con đường xâm lược và di dân qua Ai Cập, Bắc Phi và Tây Ban Nha, có thể đã gây những ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển Guitarra Latina của người châu Âu sau này.

    Guitarra Latina thì khác biệt với đường cong cân đối hình số 8, và từ một vài đất nước ở Châu Âu, nó đã đến được Tây Ban Nha. Rõ ràng hình dáng của nó cũng gần giống với hình dáng cây đàn guitar ngày nay (chỉ khác đôi chút là guitar ngày nay có phần dưới phình hơn phần trên).

    Cây đàn guitar bắt đầu được phổ biến bởi những người dân du mục. Guitar có thể đã được đưa đến Tây Ban Nha từ Provence (nằm ở phía đông nam, một trong những thành phố cổ kính nhất của Pháp) qua Catalonia. Từ đó, nó được lưu truyền trong giới du mục Tây Ban Nha, và tạo nên một sức lôi cuốn ở khắp mọi nơi.


  2. 4 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới HungMusic_NT cho bài viết hữu ích này:


  3. #2
    HungMusic_NT's Avatar
    Ngày tham gia
    11-01-2011
    Đang ở
    ♫ Khánh Hòa ♫
    Bài viết
    4,799
    Thanks
    14,792
    Được THANKS 24,250 lần

    Tiếp theo

    3.Thế kỷ 16:

    Cho đến trước thời kỳ Trung Cổ, những tài liệu quan trọng về guitar đều được miêu tả qua những bức họa, những bức tượng hay các bức phù điêu. Sự tin cậy về tính xác thực của những tài liệu này thực sự không cao .

    Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ 16, rất nhiều bằng chứng thuyết phục về sụ tồn tại của loại nhạc cụ này cho tới ngày nay. Tại thời điểm này guitar có rất nhiều tên gọi khác nhau: Vihuela (thời kỳ của Luis de Milan), Rizzio guitar (Pháp), Chitarra battente (Italia)…

    Cây đàn Vihuela
    Cây đàn này xuất hiện tại Tây Ban Nha, và nó có 4 hoặc 5 dây.




    Cùng thời điểm này cũng xuất hiện cây đàn Lute, nó trở thành một loại nhạc cụ được yêu thích nhất trong tầng lớp quý tộc ở Châu Âu.




    Tây Ban Nha cũng không nằm ngoài ngoại lệ. Tại đất nước này, cây đàn Lute đã gia nhập vào tầng lớp của những người Moors khi họ thống trị Tây Ban Nha. Chính vì lý do này mà người dân Tây Ban Nha không hề dễ dàng để có thể chấp nhận cây đàn Lute này. Tuy nhiên, họ nhận thức được giá trị của những bản nhạc viết cho nó, và kể từ đây cuộc tìm kiếm một loại nhạc cụ khác có thể chơi những bản nhạc này bắt đầu…

    Cây đàn Lute có bốn dây kép đưa rất được ưa thích trong giới quý tộc, bởi nó đủ khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp về âm điệu trong các bản nhạc mà cây đàn bốn dây đơn không đáp ứng được. Còn một nguyên nhân khác đó là họ luôn cho rằng cây đàn gồm bốn dây đơn chỉ dành cho tầng lớp thấp hèn trong xã hội. Nhưng trong những trường hợp bắt buộc, chiếc đàn bốn dây đơn được mở rộng ra và thay bằng sáu dây đôi. Nó giống như chiếc đàn có sáu dây đơn nhưng thấp hơn nửa cung. Người ta gọi đó là cây đàn Vihuela.

    Với những nỗ lực hoàn thiện, cuối cùng cây đàn Vihuela có tất cả sáu dây đôi và những dây này được làm bằng ruột thú. Đàn Vihuela dài hơn cây đàn guitar cổ điển ngày nay cỡ 4 inches, cần đàn gồm 12 ngăn.

    Một trong số những người chơi Vihuela đầu tiên là Luis de Milan (1500-1561). Đến năm 1535, ông xuất bản cuốn sách Libro de Musica de Vihuela de Mano Intitulalo "El Maestro". Đó là cuốn sách quan trọng nhất của ông.

    Cây đàn Vihuela được biết đến lần cuối cùng vào năm 1700 và đó là thời điểm hoàn thiện nhất của Vihuela. Phím đàn làm bằng kim loại, những đường cong rõ nét hơn và lỗ thoát âm có hình oval. Hiển nhiên với sự phổ dụng của nhạc cụ này, rất nhiều tác phẩm đã được viết cho nó và còn lưu truyền đến ngày nay. Ở những bản nhạc viết cho Vihuela, mỗi dòng tương ứng với một dây đàn. Đối với bản nhạc soạn theo hệ thống của Tây Ban Nha hoặc Italia, dây đầu tiên tương ứng với dòng cuối cùng của bản nhạc, còn theo hệ thống của Pháp hoặc Anh thì ngược lại. Các con số trên mỗi dòng tương ứng với vị trí bấm của ngón tay và được đặt ở phía trên khuông nhạc. Nó cũng giống như những bản nhạc ngày nay vậy.

    Những tác phẩm đầu tiên được công bố ở Tây Ban Nha cho Vihuela là của Luis de Milan (1535), Luis de Narvaez (1538), Alonso de Mudarra (1546), và những tác phẩm hay nhất thời kỳ Phục Hưng đều nằm trong số chúng. Có thể nói thế kỷ 16 chính là thời kỳ vàng son của cây đàn Vihuela Tây Ban Nha.


    Cây đàn bốn dây:

    Cây đàn bốn dây của người Ai Cập khi du nhập vào Châu Âu đã chịu những thay đổi lớn về hình dáng. Số dây bị thay đổi từ ba, bốn rồi đến năm dây. Tuy nhiên, cây đàn bốn dây vẫn phổ biến nhất vào giai đoạn cuối thời Trung Cổ.

    Đến thế kỷ 15, sự xuất hiện của những chiếc đàn Chitarra, Chitarino (Italia), Guitarra (Tây Ban Nha), Quitare, Quinterne (Pháp) và Gyterne (Anh) được miêu tả là một nhạc cụ có phần lưng cong mà về sau này phát triển thành cây đàn Mandoline. Chỉ đến thế kỷ 16 thì những đặc điểm được nêu ở trên mới được sử dụng để thiết kế cho họ hàng của cây đàn guitar.

    Những chiếc đàn chế tạo tại Châu Âu phần lớn đều có bốn dây đôi, ngoại trừ tại Italia, nơi mà dây đàn đầu tiên là dây đơn, và do đó hệ thống dây của người Italia khác biệt so với hệ thống dây chuẩn.

    Ở Tây Ban Nha có hai hệ thống cho guitar bốn dây. Hệ thống thứ nhất sử dụng các dây G-D-F#-B. Nó phù hợp với những bản ballads cũ và nhạc đệm hơn là các thể loại nhạc hiện diện tại thời điểm này. Hệ thống còn lại thì giống như bốn dây đầu của guitar cổ điển ngày nay.

    Bản nhạc đầu tiên của người Tây Ban Nha viết cho guitar bốn dây là bản Alonso Mudarra. Bản nhạc này gồm 4 khúc phóng túng, một điệu nhảy pavana và bản romance Gárdame las Mudarra. Tác phẩm thứ hai là bản Orphelina Lyra của Miguel de Fuenllana. Joan Carlos là người đã viết bản nhạc cuối cùng cho loại đàn này vào năm 1586.

    Khi những bản nhạc của Tây Ban Nha cho cây đàn 4 dây được xuất bản, nó đã thu hút rất nhiều nghệ sĩ ở Pháp và Italia.

    Ở Italia, một tuyển tập về guitar của Paolo Virchi được xuất bản tại Venice với tựa đề Libro de tabolatura de chitarra. Số đầu sách xuất bản cũng tương đương với số người chơi guitar bấy giờ.

    Ở Pháp, từ năm 1511 đến năm 1555, có 5 cuốn sách về các bản nhạc guitar được xuất bản tại Paris của các tác giả Andrian Le Roy và Robert Ballard. Chúng gồm những khúc phóng túng, những điệu nhảy như điệu branles hay điệu galliards; những bản nhạc cho guitar và giọng hát - là các bản thánh ca, hoặc những bài hát thông thường. Tác giả của các bản nhạc trong những quyển sách này gồm rất nhiều người. Điều đó minh chứng cho một trường phái guitar đã tồn tại ở Pháp vào thế kỷ 16.

    Ngoài ra ở Đức thời bấy giờ có hai nghệ sĩ guitar được biết đến là Michael Janusch và Michel Mulich.

    Tại những đất nước này còn có rất nhiều nghệ sĩ guitar chưa được biết tới, nhưng những tác phẩm của họ hầu như không được công bố một cách rộng rãi do sự ngăn cấm của hoàng gia.


    Cây đàn năm dây:

    Vào giai đoạn Trung Cổ, những cây đàn ba, bốn, năm dây cùng song hành tồn tại đã gây được một sự chú ý nhất định. Đến thế kỷ 15, cây đàn bốn dây trở nên nổi trội hơn cả. Sang đến thế kỷ 16, nó dần được thay thế bằng cây đàn có năm dây.



    Bằng chứng đầu tiên về sự tồn tại của loại đàn này là trên một bức trạm trổ ở Italia vào thế kỷ 15. Kích cỡ của nó cũng tương đương như guitar ngày nay, tuy nhiên chiếc hộp âm có vẻ lớn hơn một chút. Cấu trúc tuyệt vời của nó cho ta thấy sự tài hoa trong việc làm đàn của những thợ thủ công người Italia.

    Nguồn gốc cây đàn năm dây này là cây đàn chitarra battente.



    Mặt sau của hộp âm là những đường cong mềm mại hướng ra ngoài thay vì là một mặt phẳng và viền đàn được trang trí bằng những sọc trắng. Ở mặt trước của hộp âm, phía cuối có gắn ngựa đàn hình tán lá. Những mẫu này về sau được sử dụng rất phổ biến. Sự phổ biến này được thể hiện qua các bức họa mà người ta đã tìm thấy được.



    Cây đàn Rizzio guitar của người Pháp cũng được trang trí không kém. Nó được trang trí bằng vảy rùa, ngà voi, xà cừ và gỗ mun.

    Ở Tây Ban Nha, cuốn sách hoàn chỉnh nhất cho cây đàn năm dây được xuất bản tại Barcelone. Được viết bởi Juan Carlos Amat, cuốn sách có một phần liên quan đến cách chơi mới với loại đàn năm dây và có một vài tác phẩm dành cho cây đàn này.

    Tóm lại, cây đàn năm dây là sự phát triển và biến đổi của cây đàn bốn dây. Cây đàn năm dây gồm các dây A-D-G-B-E giống như năm dây đầu của đàn guitar ngày nay. Do cây đàn bốn dây có hệ thống dây giống như bốn dây đầu của đàn guitar ngày nay(D-G-B-E), người ta có thể kết luận rằng việc thêm dây A trầm đã sinh ra cây đàn năm dây. Cây đàn năm dây xuất hiện từ Italia đã được chấp nhận và phát triển rộng rãi trong suốt thế kỷ 16 tại Châu Âu.

  4. 3 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới HungMusic_NT cho bài viết hữu ích này:


  5. #3
    HungMusic_NT's Avatar
    Ngày tham gia
    11-01-2011
    Đang ở
    ♫ Khánh Hòa ♫
    Bài viết
    4,799
    Thanks
    14,792
    Được THANKS 24,250 lần

    Tiếp theo

    4.Thế kỷ 17:

    Dưới sự bảo trợ của tầng lớp quý tộc Châu Âu, cây đàn guitar đã có một chỗ đứng của riêng mình và sau đó trở thành một thứ nhạc cụ không thể thiếu. Số nhà soạn nhạc, số người sử dụng và số người sản xuất cây đàn này đã tăng với một sự cân đối đáng kinh ngạc. Và với sự cải tiến hình thức xuất bản, họ - các nhà soạn nhạc, các nghệ sĩ guitar và các thợ làm đàn - đã được mọi người biết tới một cách rộng rãi.

    Vua Louis XIV của Pháp cũng biết chơi guitar, và ông luôn dành sự quan tâm lớn cho cây đàn này. Người dạy đàn cho ông là một guitarist rất nổi tiếng - Robert de Visée (1650-1725), còn được gọi là Guitar Master of the King. Cùng thời này còn có nhà soạn nhạc nổi tiếng khác là Jean Baptiste Lully. Ông chơi guitar và sáng tác cho nhạc cụ này.

    Thời kỳ Baroque ở Pháp cũng chứng kiến sự xuất hiện của những thợ làm đàn nổi tiếng. Một trong số đó là René Voboam, ông được biết đến như là người làm đàn hàng đầu của Pháp trong ở thế kỷ 17.



    Năm 1641, ông đã chế tạo một cây đàn mà trên đó những đường nét hoa văn được làm hết sức tinh xảo. Con trai của ông, Jean, cũng là thợ làm đàn tài giỏi vào thời kỳ này.

    Ảnh hưởng của Đức:

    Vào thế kỷ 17 ở Hà Lan, một số lượng lớn các tác phẩm âm nhạc viết cho cây đàn guitar được công bố. Điển hình trong số đó là của Isabel van Laughenhove. Nhưng tại Bắc Âu, chính Đức mới là nơi mà cây đàn guitar phổ biến nhất. Những cái tên như Heinrich Schütz (1585 - 1672), Samuel Scheidt (1587 - 1654) và Johann Hermann Schein (1586 - 1630) đều có những ảnh hưởng hết sức to lớn đối với cây đàn guitar.

    Trong số những cây đàn guitar của Đức còn tồn tại, đáng chú ý nhất là cây đàn đầu tiên được làm bởi Jacobus Stadler vào năm 1624. Kiểu dáng với thùng đàn cong, mặt sau nhẵn và phô bày sự khỏe khoắn đã có hưởng rất lớn tới các thợ làm đàn của Italia. Cùng thời kỳ này , một chiếc đàn có hình dáng hoàn toàn khác do một linh mục, cha John tại nhà thờ Apsom làm ra. Phía sau của cây đàn được trang trí bằng bức tranh chúa Giê-xu bị đóng đinh trên cây thánh giá.

    Người thợ làm đàn tài danh nhất Châu Âu thời kỳ này là Joachim Tielke (1641-1719) ở Hambourg. Những cây đàn của ông được trang trí bằng các vật liệu như ngà, vảy rùa, gỗ mun, vàng và bạc…Ông đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật làm đàn. Một trong số những cây đàn của ông được trạm trổ những bức tranh bên cạnh sườn đàn làm bằng ngà voi. Những bức tranh này vẽ cảnh Chúa sáng tạo ra thế giới (Genesis). Những cây đàn khác được trang trí hình cỏ cây hoa lá, những quang cảnh huyền thoại, một đặc trưng trong các sản phẩm của ông. Các sản phẩm của ông đều có khuynh hướng thiên về kiểu trang trí tinh tế, và đã tạo ra một xu thế chung cho các thợ làm đàn của Đức. Nó cũng có thể so sánh với với nghệ nhân làm đàn hàng đầu của Italia thời kỳ Phục Hưng.

    Ảnh hưởng của Đông Âu:

    Theo các cuộc tìm kiếm thì guitar xuất hiện ở Đông Âu từ giữa thế kỷ 17. Tại Tiệp khắc, các thợ làm đàn đã cố gắng thay đổi chiếc battente cho phù hợp. Từ chiếc chitarra battente năm dây đôi ban đầu, họ đã thêm một dây đơn để chơi những bản nhạc có giai điệu du dương. Những cây đàn của Andrees Ott, thợ làm đàn đến từ Prague, là minh chứng rõ nhất cho thấy ảnh hưởng trong phong cách làm đàn của Italia.

    Ở Ba Lan, trong lịch sử của cây đàn guitar cũng ghi nhận sự đóng góp của Jakob Kremberg, nhà thơ, kiêm ca sĩ và cũng là nhà soạn nhạc, đến từ Warsaw. Ông sáng tác các tác phẩm cho cây đàn guitar, và các tác phẩm của ông quan trọng ở chỗ nó cho chúng ta biết cách cây đàn được lên dây. Ở đây, cây đàn được lên dây thấp hơn nửa cung so với guitar ngày nay.

    Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha:

    Mặc dù cây đàn guitar ở Tây Ban Nha không phổ biến như ở Italia cũng như không phổ biến bằng chiếc Vihuela trong thế kỷ trước, nhưng người ta vẫn tìm thấy được các tác phẩm quan trọng và một số lượng không nhỏ các nghệ sĩ guitar được mọi người biết đến.

    Một trong những nghệ sĩ Tây Ban Nha nổi tiếng của thời kỳ này là Francisco Corbera. Và nếu nói đến nổi tiếng thì cũng không thể không nhắc đến một guitarist nổi tiếng không kém thời kỳ này. Đó là Gaspar Sanz.

    Gaspar Sanz học guitar ở Italia và ngoài ra ông còn học đàn organ cũng như lý thuyết về âm nhạc ở đó. Ông trở thành một organist trong nhà thờ của nhà vua ở Naples. Trở lại Tây Ban Nha, ông đã cho xuất bản ba cuốn sách nhạc cho guitar vào các năm 1674, 1675 và 1697. Những cuốn sách này bao gồm những lời khuyên có giá trị rất cao của tác giả tới cách ứng tấu và diễn xuất, sử dụng hai kỹ thuật: đánh hợp âm và đánh rải nốt. Ông cũng đã khẳng định rằng những kỹ thuật cũ phù hợp nhất với những điệu nhảy. Hệ thống dây của ông gồm 5 dây A-D-G-B-E.

    Không những là một nghệ sĩ chơi guitar và organ, ông còn là một nhà soạn nhạc tài ba. Những bản solo được chiếm phần lớn trong cuốn sách của ông. Người ta cũng tìm thấy rất nhiều các điệu nhảy và các bản passacaglias trong các sáng tác của ông. Không những thế, trên những bản ghi nhạc của ông còn có một vài đoạn ngắn với các chú thích hiện đại.

    Một cuốn sách khác được xuất bản cũng rất quan trọng, sau cuốn của Sanz, xuất hiện ở Madrid vào năm 1677. Tác giả của nó là Lucas de Ribayaz. Cuốn sách này có chứa các tác phẩm viết về các điệu nhảy mang âm hưởng dân gian.

    Có thể nhà soạn nhạc quan trọng nhất của Tây Ban Nha thế kỷ 17 là Francisco Guerau, một linh mục và nhạc sĩ dưới triều vua Charles II. Cuốn Poema harmonico compuesto de varias cifres por el temple de la Guitarra Española của ông được xuất bản năm 1694 gồm có 15 bản passacaglias và 10 điệu nhảy. Trong cuốn sách của ông có một loạt các hướng dẫn về cách ghi nốt nhạc trên bản ghi cũng như là những chỉ dẫn rất chi tiết về các thế tay và kỹ thuật chơi đàn. Ông chỉ ra cách chặn ngón, và rất quan tâm tới thế tay của bàn tay phải, cũng như ngón cái của bàn tay trái. Những đóng góp của ông hết sức lớn lao trong việc phát triển những kỹ thuật của cây đàn guitar.

    Ở Bồ Đào Nha, vua Jean IV (1603 - 1656) đã xây dựng một thư viện về âm nhạc đầy đủ nhất của thế kỷ 17. Một trong những người chơi guitar nổi tiếng nhất của Bồ Đào Nha là Doisi de Velasco. Cuốn sách đầu tiên của ông được xuất bản ở Naples vào năm 1640. Cuôn thứ hai được xuất bản năm năm sau đó. Sự phổ biến của guitar ở Italia đứng trên cả Tây Ban Nha, và điều đó khiến những ông chủ người Bồ Đào Nha cảm thấy họ sẽ có lợi nhuận cao hơn nếu in ấn tại Italia thay vì tại quê nhà. Chính vì thế, trong suốt thế kỷ 17 rất nhiều tác phẩm của các nhạc sĩ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha được xuất bản ở Italia.

    Guitar ở Italia:

    Guitare có một vị trí rất quan trọng trong đời sống âm nhạc của những người Italia thời kỳ này. Một số lượng lớn các nhà soạn nhạc và các nghệ sĩ guitar trong suốt thời kỳ Baquore sống ở Italia, và số lượng các nhạc cụ tiếp tục tồn tại ở thời kỳ này nhiều hơn ở bất kỳ đất nước nào khác. Đó là lý do tại sao nơi đây chính là trung tâm guitar của thế giới.

    Người ta cho rằng yếu tố quan trọng nhất khiến guitar trở nên phổ biến ở Italia và sự phong phú về tài liệu của nó là do sự du nhập từ Tây Ban Nha. Vì lý do này mà chiếc đàn guitar ở Italia được gọi là chitaria spagñuola. Những kỹ thuật mới đã thay thế những kỹ thuật thịnh hành của guitar ở Italia thế kỷ 16. Kỹ thuật này xuất phát từ kỹ thuật chơi đàn vihuela mà người Tây Ban Nha áp dụng cho cây đàn của họ. Người Italia đã từng bước phổ biến cây đàn, tên gọi chitaria spagñuola dần được thay thế bằng cái tên Spanish guitar (chúng ta hay gọi là Tây Ban Cầm) và nó còn được sử dụng cho tới ngày nay.

    Có hai kỹ thuật cơ bản của guitar (đánh hợp âm và đánh rải nốt) cùng tồn tại ở Italia vào thế kỷ 17. Kỹ thuật đánh rải nốt được thể hiện rõ ràng trên các bản ghi nhạc. Kỹ thuật đánh hợp âm thì được thể hiện nhờ vào cách ghi nốt phát triển bởi các nhà soạn nhạc thế kỷ 16 và 17. Cách ghi nốt này bao gồm một gam hợp âm cơ bản, mỗi gam được xác định bằng một chữ cái in hoa.

    Thế kỷ 17 cũng có rất nhiều nhà soạn nhạc người Italia, đang chú ý trong số họ là Girolamo Montesardo, được nói tới như là nhà soạn nhạc vào buổi đầu của thế kỷ 17. Bên cạnh đó cũng phải kể tới Benedetto Sanseverino với các tác phẩm thuộc các thể loại passacaglia, chaccone và sarabande.

    Nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất thế kỷ này là Francesco Corbetta (Corbetti). Ông đã đi lưu diễn khắp Italia cũng như toàn Châu Âu và đạt được rất nhiều thành công. Mọi người coi ông là một nghệ sĩ bậc thầy. Corbetta sử dụng rất nhiều kiểu ghi nhạc khác nhau để viết nhạc. Ông cũng sáng tác rất nhiều thể loại: toccata, passacailia, giao hưởng…, những hơn cả là những bản tổ khúc gồm ba chương Almanda, Courrente và Sarabande. Đó là những bản tổ khúc sớm nhất của thời kỳ Baroque.

    Giovanni Battista Granata là nhà sáng tác nhạc nhiều nhất của thế kỉ 17. Những bản nhạc của ông được xuất bản trong 7 tập. Trong đó có một số tác phẩm dành cho guitar solo như prelude, toccata, corrente…cùng những tác phẩm khác với độ phức tạp cao.

    Một vài nhà soạn nhạc quan trọng nữa của đất nước Italia là Domenico Pellegrini, Ludovico Roncalli. Những nhà soạn nhạc này đã viết theo hệ thống kí hiệu như những nhà soạn nhạc trước thế kỷ 17. Rất nhiều tác giả đã đi lưu diễn khắp châu Âu và mang theo mình cây đàn guitar. Bên cạnh đó cũng có những tác phẩm mang tính học thuật viết về guitar và các nghệ sĩ trình tấu.

    Những tác phẩm về guitar và các cuốn sách được xuất bản phổ biến ở Italia trong thế kỉ 17 đã được tìm thấy trong khắp các nhà bảo tàng trên thế giới. Không giống như những cây đàn guitar ở phương Bắc với hoa văn và thiết kế đồng bộ theo khuôn mẫu, guitar của người Italia thể hiện một kiểu trang trí rất phong phú và hoa mỹ. Sự tài hoa trong việc chế tạo những cây đàn đã đem lại sự thống trị của guitar Italia thời đó.

    Antonio Stradivari (1644-1737) ở Cremona, thợ làm đàn nổi tiếng nhất của Italia thế kỷ 17, được biết tới như một tài năng làm đàn có một không hai với những chiếc violin, viola và cello. Không chỉ vậy, ông còn có thể chế tạo ra những cây đàn harp, cetera, và guitar tuyệt vời không kém.

  6. 3 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới HungMusic_NT cho bài viết hữu ích này:


  7. #4
    HungMusic_NT's Avatar
    Ngày tham gia
    11-01-2011
    Đang ở
    ♫ Khánh Hòa ♫
    Bài viết
    4,799
    Thanks
    14,792
    Được THANKS 24,250 lần
    5.Thế kỷ 18:


    Trong suốt thế kỷ 17, Italia là trung tâm của guitar trên khắp thế giới và vị thế này còn tiếp tục duy trì đến cuối thời kỳ này. Tuy nhiên sau đó, guitar ở các nước Bắc Âu cũng bắt đầu cuộc đua tranh. Ở Đức, nơi mà cây đàn guitar được phổ biến từ đầu những năm 1600, ngày càng nổi lên. Bên cạnh đó là một số lượng lớn các nhà soạn nhạc và người chơi đàn được biết đến, và họ chính là những đối thủ cạnh tranh đáng gờm với những người Italia.

    Guitar ở Đức:

    Âm nhạc thời kỳ Baroque của Đức đã đạt đến đỉnh cao với những bậc thầy về âm nhạc như là Johann Pachelbel (1653-1706), Vincentius Lübeck (1654-1740) và Johann Sebastian Bach (1685-1750). Thế kỷ này còn chứng kiến sự hồi sinh của cây đàn Lute. Bản thân Bach cũng sáng tác rất nhiều tác phẩm cho đàn Lute.

    Sự phong phú trong tài liệu cũng như sự phát triển của Lute, rốt cuộc cũng kéo theo sự phổ biến của cây đàn guitar. Nhưng sự phức tạp của đàn Lute lại nảy sinh. Có những nơi Lute có không dưới 24 dây. Để chơi tốt một cây đàn như vậy đòi hỏi phải có sự khéo léo và khổ luyện, đồng thời kỹ thuật chơi đàn càng ngày càng khó hơn. Nó trở nên rất khó sử dụng, và vì lẽ đó Lute đã tự tách rời mình và mọi người dần quay trở lại với cây đàn guitar.

    Số lượng người chơi đàn thời kỳ này cũng ngang bằng với số người soạn nhạc cho dụng cụ này. Johann Arnold (1773-1806), Friedrich Baumbach (1753-1813) và Johann Christian Franz (1762-1814) là một vài nhà soạn nhạc cho solo guitar thời kỳ này. Tuy nhiên, nét riêng biệt của guitar ở Đức thời kỳ này là sự kết hợp sử dụng cây đàn này với các dụng cụ nhạc khác như: guitar với flute; guitar với kèn bassoon; guitar với viola và bass…

    Cuốn sách lý thuyết về guitar rất quan trọng thời kỳ này của Joseph Friedrich Bernhardt Kaspar Majer là cuốn Neu eröffneter theotischer und praktischer Music-Saal. Đây là cuốn sách đầu tiên cho loại đàn sáu dây. Theo Majer, hệ thống dây của guitar gồm các nốt D-A-D-F#-A-D.

    Năm 1788, nữ công tước Amalia von Weimar đã mang một chiếc đàn năm dây từ Italia về Weimar. Chiếc đàn này sau đó đã trở thành nguyên mẫu cho thợ làm đàn nổi tiếng Jacob August Otto (1760-1829) dựa theo. Những cây đàn được làm dựa theo cây đàn này trở nên rất phổ biến ở miền nam nước Đức. Vào thập kỷ cuối của thế kỷ 18, Naumann-chỉ huy dàn nhạc ở Dresden-đã yêu cầu Otto thêm vào cây đàn của ông dây bass thứ sáu.

    Đàn guitar, với sự phổ biến ở Đức, dần dần lan rộng tới những đất nước ở phương Bắc. Ở Đan Mạch, Peter Schall (1762-1820), nghệ sỹ cello, đã sáng tác những bài hát và hợp xướng với phần đệm guitar.

    Guitar ở Bỉ và Hà Lan:

    Đất nước Bỉ đã sản sinh ra rất nhiều guitarist nổi tiếng, và một trong số đó là François Le Cocq, một nghệ sỹ violon của Brussels Orchestra. Ông đã viết rất nhiều tác phẩm cho cây đàn guitar dựa trên bản ghi nhạc của Pháp. Sau đó, ông đã xuất bản một tuyển tập các tác phẩm guitar của các bậc thầy thế kỷ 17.

    Ở Hà Lan bấy giờ có gia đình nhà Cuypers rất nổi tiếng với việc vừa chơi đàn vừa sản xuất nhạc cụ. Họ trở thành một gia đình điển hình tại thành phố The Hague và Amsterdam.
    Guitar ở Đông Âu:

    Sự ưa thích của cây đàn guitar ở các nước Bắc Âu chỉ sánh ngang được với một số nước Đông Âu như Bohemia, Czechoslovakia và Nga. Johann Baptist Wanhall (1739-1813), một người Bohemia đã soạn các tác phẩm thính phòng trong đó có sử dụng guitar.

    Ở Czechoslovakia, những truyền thống trong cách chơi guitar được tiếp tục phát triển thêm nhờ những đóng góp của các nhà soạn nhạc như Heinrich Dringeles và những thợ làm đàn như Jean Bourgard ở Praha. Những sản phẩm ngoài guitar còn có mandolin, đàn bass, lute, English guitar và một chiếc mechanic guitar.

    Về cuối thế kỷ 18, guitar mới bắt đầu đi có một chỗ đứng vững chắc ở nước Nga. Thợ làm đàn tiên phong bắt đầu công việc của họ cùng thời điểm này. Một trong số đó là Ivan Andreyevich Batov. Ông mở xưởng của ông tại Ulm (Đức) vào năm 1780. Vùng này cũng là vùng sản xuất rất nhiều loại nhạc cụ như là guitar, đàn balalaikas, violin và cello.

    Guitar ở Pháp

    Ở Pháp guitar là nhạc cụ giành được địa vị cao nhất trong tầng lớp quí tộc. Ở đây, khuynh hướng kết hợp guitar với sự tao nhã trở nên đặc biệt, và sau đó đã được phản ánh lại trong các tác phẩm nghệ thuật đầy tính hoa mỹ. Bức tranh nổi tiếng nhất trong số đó là của Antonie Watteau (1684-1721). Trong bức tranh này, hình ảnh những người mục đồng thang khắp nơi được sắp xếp một cách tài tình với cây đàn guitar trên tay. Những họa sĩ khác ở Pháp cũng vẽ về chủ đề liên quan tới cây đàn guitar còn phải kể tới như Jean Baptiste Pater và Ollivier.

    Những người Pháp còn có những bước sáng tạo dài trên con đường nghệ thuật với cây đàn guitar. Họ tiếp tục phát triển cách thức mà cây đàn được chế tạo vào thời kỳ đầu và theo mẫu đàn của René Voboam.



    Sự kế tục này được minh chứng bằng số lượng những cây đàn được làm ra vào thế kỷ 18 này.

    Một thí dụ điển hình của thế kỷ 18 là cây đàn guitar sáu dây được làm bởi Francisco Lupot vào năm 1773. Salomon guitar (làm bởi Salomon) cũng tương tự cây đàn của Francisco Lupot. Nó ra đời vào khoảng năm 1760 ở Pháp.

    Cuộc Cách mạng ở Pháp năm 1789 đã khiến rất nhiều nhà quí tộc phải đi lưu vong, nhưng may mắn thay nó không dẫn theo sự sụp đổ của loại nhạc cụ này. Trái lại, trong thời gian này, nó đã tiến thêm một bước nữa trong việc phổ biến mình ở tầng lớp nhân dân. Tất nhiên với không ít những khó khăn, cây đàn guitar không thể giành được lấy sự yêu mến nếu không có sự nỗ lực các nhạc sĩ cũng như các nghệ sĩ trước và sau cuộc Cách mạng.


  8. 3 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới HungMusic_NT cho bài viết hữu ích này:


  9. #5
    HungMusic_NT's Avatar
    Ngày tham gia
    11-01-2011
    Đang ở
    ♫ Khánh Hòa ♫
    Bài viết
    4,799
    Thanks
    14,792
    Được THANKS 24,250 lần
    Những nghệ sĩ và nhạc sĩ của thế kỷ 18:

    - Trille Labarre: một nghệ sĩ bậc thầy về guitar. Ông viết nhạc cho guitar solo, cho guitar với violin cũng như các tác phẩm thanh nhạc với guitar.

    - Antoine Marcel Lemoine (1763-1877): nhà soạn nhạc nổi tiếng. Ông có thể chơi được cả violin.

    - B.Vidal: vừa là nghệ sĩ, giảng viên vừa là sáng tác gia. Ông viết bản Nouvelle Méthode cho guitar.

    - Charles Doisy: nhân vật được coi là nổi bật nhất trong lịch sử của guitar thế kỷ 18 ở Pháp. Ông chơi cả guitar năm dây và sáu dây, viết những chuyên luận cho cả hai loại nhạc cụ này. Ông sáng tác gần 200 tác phẩm cho guitar solo, guitar song tấu với piano, với các nhạc cụ dây cũng như với nhạc cụ hơi. Doisy cũng đã viết không dưới 50 biến tấu với chủ đề Folia d’Espagna (một chủ đề rất phổ biến ở Châu Âu). Hai tác giả người Italia là Arcangelo Corelli và Alessandro Scarlatti cũng viết những biến tấu cho chủ đề này.

    Sự phát triển ở các nước Châu Âu thời kỳ này được phản ánh bởi sự đối lập tại Tây Ban Nha. Số nghệ sĩ, nhạc sĩ, thợ làm đàn guitar ít hơn rất nhiều nếu so sánh với những gì nó đã đạt được vào thế kỷ trước. Điều này xảy ra có thể bởi trong những thế kỷ trước đây đàn guitar bị lu mờ trước cây đàn Vihuela, và những trường học guitar tại Tây Ban Nha không được chú trọng phát triển cho đến cuối thế kỷ 18. Vào thời gian này, cửa hàng của José và Juan Pages được mở cửa (trong suốt những năm từ 1790 đến 1819) ở Cadiz (Tây Ban Nha), nơi được coi là trung tâm của các loại nhạc cụ.


    - Juan Matabosch, làm việc tại Barcelona, được biết đến là một trong số những thợ làm đàn quan trọng tại Tây Ban Nha vào giai đoạn cuối của thế kỷ 18. Cây đàn guitar đầu tiên của Fernando Sor được làm bởi chính tay Matabosch.

    - Santiago de Murcia là một trong số những guitarist hàng đầu của thế kỷ 18 tại Tây Ban Nha và cũng là một nhà soạn nhạc.

    - Cây đàn Vieyra, một thể loại khác của guitar, được làm bởi những người thợ Bồ Đào Nha.



    - Fernando Ferandière được đánh giá rất cao trong số các guitarist thế kỷ 18. Điểm đáng chú ý là đã có 235 tác phẩm của ông được xuất bản từ năm 1785 đến năm 1799. Sự đóng góp quan trọng nhất của Ferandière là tác phẩm Arte de tocar la guitarra española por musica, được xuất bản năm 1799 tại Madrid, nó nói về phương thức sử dụng những ký hiệu hiện đại cho đàn guitar sáu dây.

    Xuất hiện gần như đồng thời với tác phẩm của Ferandière là cuốn Principios para tocar la guitarra de seis ordenes của Don Frederico Moretti, một nhà soạn nhạc người Italia. Tác phẩm của ông đã xác định những nguyên tắc cơ bản trong kỹ thuật của guitar hiện đại giúp cho guitar có thể phát triển xa hơn. Moretti được F.Sor và Aguado đánh giá rất cao trong tác phẩm này và những cách tân của ông.

    Trong số vô vàn các nhạc sĩ Italia sáng tác cho cây đàn guitar, người thành công nhất đó chính là Luigi Boccherini (1746-1805). Ông đã đi rất nhiều nơi, biểu diễn cello cùng với Manfredini-một nghệ sĩ violin nổi tiếng và cũng là một sáng tác gia. Cả hai ông đều được mời tới Madrid làm việc. Sau đó, Boccherini làm cho vua Phổ, và ông cảm thấy mãn nguyện với những công việc nhỏ của mình. Sau thời kỳ này, Boccherini học chơi guitar và được mời viết các tác phẩm cho guitar. Vào năm 1799, Boccherini sáng tác bản Symphony Concertante cho guitar, violin, kèn oboe, cello và đàn bass.

    Sự hoàn thiện của cây đàn guitar ở Italia đã có tác động hết sức mạnh mẽ trên khắp các lãnh thổ khác, đặc biệt là Nam Mỹ. Argentina là nơi đã sản sinh rất nhiều guitarist. Trong số đó có Manuel Macial và Antonio Guerrero là nổi bật hơn cả.


    Guitar sáu dây:

    Rõ ràng việc thêm những sợi dây đàn để hình thành nên guitar sáu dây chính là nhân tố quan trọng nhất trong sự phát triển của guitar. Sự cách tân của nó vào thế kỷ 18 không có một sự lưỡng lự như guitar năm dây của thế kỷ 16. Nguồn gốc của cây đàn guitar sáu dây của Italia được biết tới dựa trên rất nhiều luận cứ:

    + Cây đàn chitarra battente của Italia vào cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18 được thêm dây thành sáu dây đàn.
    + Cuốn sách được xuất bản bởi Joseph Friedrich Bernhardt Kaspar Majer nói về hệ thống dây của guitar sáu dây.
    + Cây đàn guitar sáu dây đầu tiên của Đức được làm bởi Otto theo phương thức của người Italia.

    Người ta không biết chính xác cái ngày mà guitar sáu dây đôi được thay thế bằng guitar sáu dây đơn, nhưng chắc chắn rằng đó là vào khoảng giữa thế kỷ 18 trở lại. Đến giai đoạn cuối thế kỷ này, cây đàn sáu dây đơn đã làm lu mờ tất cả các loại guitar khác ngoài nó.

    Việc sản xuất guitar sáu dây trở nên có quy chuẩn. Lỗ thoát âm được mở rộng, trong khi chiếc cần đàn dài ra với những phím đàn vừa vặn kéo dài tới tận lỗ thoát âm. Mười chín phím đàn đã trở thành tiêu chuẩn để sản xuất. Ngựa đàn được nâng cao lên, và thân đàn được mở rộng. Những dây có âm cao được làm bằng ruột thú (thay thế bằng dây nylon sau Thế chiến II), còn dây bass được làm bằng những sợi tơ với những vòng dây kim loại quấn bên ngoài.


    Những cây đàn guitar khác thường:

    Thế kỷ 17 là thời kỳ mà guitar có hàng loạt những thay đổi về cấu trúc. Những nhạc cụ mới và khác thường được tạo nên, những cố gắng trong việc cách tân, một vài trong số đó còn tồn tại đến thế kỷ 19.

    Sự khao khát tạo nên những âm thanh tốt hơn mang đến cho những người thợ làm đàn những thử nghiệm với những khó khăn lớn. Hầu như những cây đàn đẹp mắt nhất được phát triển vào thế kỷ 18 và 19 đều có sự liên quan mật thiết đến lyre-guitar, harp-guitar và harpolyre.

    + Harpolyre:



    Được làm bởi Salomon vào năm 1829, nó được thiết kế với quá nhiều cần đàn, một sự phức tạp đến khó hiểu. Chiếc cần ở giữa gồm 6 dây như những cây đàn guitar bình thường. Cần bên trái gồm 7 dây bass, được lên nửa cung từ nốt A (thấp hơn một quãng tám so với dây thứ 5 ở cần chính) đến nốt Eb (gần với nốt E trầm). Chiếc cần bên phải lại có tận 8 dây. Nó bắt đầu với nốt C (như nốt C ở dây thứ 2 của cần chính) tới nốt C (cao hơn một quãng tám).

    + Harp-lutes:

    Tất cả những cây đàn Harp-lutes đều bắt đầu xuất hiện vào những năm từ 1798-1830, phần lớn ở London (trừ cây đàn làm bởi Levien ở Paris).

    Edward Light là người đã làm ra rất nhiều chiếc harp-lute, với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ những cây đàn được sản xuất bởi Clementi, Harley, Wheatstone, Ventura, và cuối cùng là Levien ở Paris.

    Ngoài hai loại đàn trên còn có Terzguitar và Quartguitar, cũng có mối liên quan khá mật thiết. Cây đàn Terzguitar khá nhỏ so với guitar hiện đại và được lên dây theo hệ thống gồm các nốt: G-C-F-Bb-D-G. Chiếc còn lại cấu tạo cũng tương đối nhỏ, với hệ thống dây gồm các nốt: A-D-G-C-E-A. Rất nhiều nhà sáng tác, trong số đó có Giuliani và Diabelli, đã viết rất nhiều tác phẩm cho những nhạc cụ này. Bass guitar, Terzguitar và Quartguitar tồn tại được không quá một phần tư đầu tiên của thế kỷ 18 này.


    Một số hình ảnh về những cây đàn Harp-lutes:



  10. 3 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới HungMusic_NT cho bài viết hữu ích này:


  11. #6
    HungMusic_NT's Avatar
    Ngày tham gia
    11-01-2011
    Đang ở
    ♫ Khánh Hòa ♫
    Bài viết
    4,799
    Thanks
    14,792
    Được THANKS 24,250 lần
    6. Thế kỷ 19:


    Những khuynh hướng phát triển khác nhau của guitar trong các thế kỷ trước, được biết tới qua rất nhiều con đường đã đem tới một nhạc cụ mới – cây đàn guitar 6 dây. Chỉ đến thế kỷ 19, nó mới thực sự đạt tới đỉnh cao của sự phát triển. Guitar 6 dây giờ đây không chỉ còn rải rác ở một vài phần của Châu Âu, mà nó còn vươn tới tận Châu Mỹ và hết sức thành công tại đó.

    Sự thay đổi của xã hội được mang tới bởi cuộc Cách mạng Công nghiệp đã góp phần phổ biến sâu rộng sự hiểu biết về loại nhạc cụ này. Các nhạc sĩ có thể mang cây đàn đi khắp mọi nơi một cách dễ dàng hơn trước đây. Những chiếc xe lửa chạy xuyên suốt, và những tour lưu diễn được tăng cường đã mang đến cho các guitarist cơ hội biểu diễn chưa từng có trước số đông các khán thính giả.

    Trong nửa đầu của thế kỷ 19, Vienna chính là trung tâm của sự hồi sinh của guitar. Cũng trong cùng thời điểm này, Vienna trở thành trung tâm âm nhạc lớn nhất, lôi cuốn rất nhiều các nhạc sĩ và nghệ sĩ đến từ khắp Châu Âu. Các guitarist đã đem đến rất nhiều buổi hòa nhạc, góp phần thúc đẩy sự thừa nhận một cách nghiêm túc trước những cống hiến âm nhạc mà guitar đã mang lại.

    Simon Molitor (1766-1848) là một trong những người nổi tiếng ở Vienna mà ta phải kể tới. Ông viết cho guitar solo và cả những tác phẩm thính phòng có sự tham gia của guitar. Trong số đó có những bản tam tấu dành cho violin hoặc flute, viola và guitar.



    Mauro Giuliani:

    Mauro Giuliani (1781-1829), người Italia, là một trong số những nhân vật tiêu biểu của guitar và âm nhạc thế kỷ 19. Được sự ủng hộ tại Vienna, sau năm 1807, ông đã trở thành một nhà biểu diễn có tầm ảnh hưởng rất lớn. Ông mở rộng các buổi lưu diễn hòa nhạc cho các guitarist, bằng cách đó guitar đã được biết đến ở rất nhiều nơi ở khắp Châu Âu với một vị thế vững chắc. Ở Vienna, Giuliani có một tầm ảnh hưởng hết sức sâu sắc. Chính ông là người đã đề xướng tổ chức các buổi hòa nhạc cho guitar và dàn nhạc. Ông cũng thường xuyên biểu diễn cùng với một số nhạc công nổi tiếng cùng thời gian này.

    Giuliani có những mối quan hệ gần gũi với Karl Seidler, Spohr, Loder và Anton Diabelli. Trong số đó phải kể tới Anton Diabeli (1781-1858), không những là một trong những guitarist cừ khôi nhất đầu thế kỷ 19, mà còn là một pianist và nhà soạn nhạc xuất sắc. Ông còn là nhà xuất bản hết sức nổi tiếng. Chính sự kết hợp với Giuliani đã mang đến cho ông rất nhiều lợi nhuận. Diabeli đã xuất bản rất nhiều những ấn phẩm về guitar, và Giuliani cũng góp mặt trong số đó. Sự nỗ lực này đã góp phần đưa guitar lên một tầm cao mới, ngày càng được phổ biến sâu rộng hơn.

    Franz Schubert (1797-1828) đã chơi và viết các tác phẩm dành cho guitar. Ông quá nghèo và không đủ tiền mua cho mình một chiếc piano, thế nên guitar chính là nhạc cụ được ông lựa chọn để sáng tác. Rất nhiều các bản nhạc với những giai điệu đẹp tuyệt vời được dành cho guitar độc tấu, nhưng tác phẩm quan trọng nhất cho guitar của Schubert lại là bản Quartet for flute, guitar, viola and cello.

    Rất nhiều nghệ sĩ guitar của Italia đã kế tục Giuliani. Nổi bật trong số đó là Luigi Legnani (1790-1877). Ông đã phát triển các kỹ thuật guitar ở trình độ cao, và nó vượt trội hơn hẳn kỹ thuật của Giuliani. Legnani luôn tìm sự cải tiến đối với cây đàn guitar. Rất nhiều các đề xuất của ông đã tạo tiền đề cho sự cải tiến của loại nhạc cụ này. Ngoài ra, ông còn cho ra đời trên 250 tác phẩm bao gồm các bản concerto, song tấu, tam tấu, biến tấu, 36 bản Cappricios và một khúc Scherzo.
    Fernando Sor:



    Dẫn dắt cho “Trường phái Biểu hiện” gồm Sor và Aguado (người Tây Ban Nha), Carulli, Carcassi và Giuliani (người Italia). Nổi bật trong số đó, Fernando Sor, là guitarist vĩ đại của thời kỳ Lãng mạn. Ông sinh ra tại Barcelona vào năm 1778 và sau đó được gửi học nhạc tại Tu viện Montserrat.

    Năm 1797, tại Barcelona, ông tìm thấy trong thư viện một vở opera được viết trên nền là một giai điệu Hy Lạp cổ và tìm cách khôi phục nó. Vở opera Telemachus on Calypso's Isle đã ra đời từ đó.

    Sor được gọi nhập ngũ để chống lại sự chiếm đóng của quân Pháp. Sau năm 1812, Sor rời đến sống tại Paris, và ông đã để lại những buổi hòa nhạc làm say đắm cả kinh đô hoa lệ ấy.

    Sor đến Luân Đôn năm 1815, nơi mà ông đã trở thành guitarist đầu tiên được mời diễn biểu diễn chung với Hiệp hội âm nhạc Hoàng gia London. Vào năm 1817, ông xuất hiện với tư cách là một nghệ sĩ độc tấu trong buổi biểu diễn Concertante for Spanish Guitar and Strings (Concertante cho Guitar Tây Ban Nha và các nhạc cụ dây). Trong suốt thập kỷ 1820, ông sang Đức rồi sau đó lại tới Nga. Ba bản ballet đã được ra đời tại Mát-xcơ-va. Vào thời điểm hoàng đế Czar Alexander I băng hà năm 1825, Sor đã viết một bản hành khúc tang lễ theo yêu cầu của hoàng đế mới là Czar Nicholas I. Sau đó ông quay trở lại Pháp, sáng tác và giảng dạy không biết mệt mỏi.

    Vở ballet Cendrillon của Sor ra đời được khán giả chào đón hết sức nồng nhiệt. Ông cũng viết cả sonata, fantasia, cũng như bộ Variations on a theme by Mozart. Cuốn sách Méthode puor la guitare (tạm dịch là cuốn “Phương pháp học guitar”) xuất bản năm 1830 được coi là cuốn sách hết sức xuất sắc của ông, là thành quả của bốn mươi năm kinh nghiệm bản thân.


    Các nghệ sĩ của nước Nga:

    Andreas O.Sichra (1772-1861) được cho là người đã tạo ra cây đàn guitar Nga 7 dây đầu tiên. 75 tác phẩm của ông cho guitar 7 dây đã tạo nên sự phong phú trong các tác phẩm dành cho loại nhạc cụ này.

    Những phương pháp và nguyên lý giảng dạy của Sichra đã đào tạo nên những guitarist cừ khôi của Nga: Simeon N.Aksenow (1773-1853), nằm trong số những người được tin rằng đang phát triển những kỹ thuật hòa âm của guitar; W.I.Swinzow là một trong số những nghệ sĩ biểu diễn guitar 7 dây đầu tiên tại những khán phòng lớn.

    Sự vượt trội của guitar 7 dây ở Nga cũng không thể loại bỏ được cây đàn 6 dây ra khỏi cuộc sống âm nhạc trên đất nước này. Marcus D.Sokolowski (1818-1883) là một trong số những guitarist 6 dây nổi tiếng sau khi bắt đầu sự nghiệp của mình là với cây đàn violin và cello.

    Một trong số những nhạc sĩ người Nga có đóng góp hết sức tốt đẹp cho lịch sử của guitar là Nicolas P.Makarow (1810-1890). Ông đã ghi chép lại những ấn tượng của mình về những cá nhân và khả năng âm nhạc những người chơi guitar nổi tiếng mà ông được nghe và thấy khắp Châu Âu. Năm 1856, ông tổ chức ở Brussels một cuộc thi để tìm ra những bản nhạc guitar hay nhất và cây đàn tốt nhất. Giải nhất và nhì cho tác phẩm hay nhất được trao lần lượt cho Napoléon Coste và Johann Mertz, còn về giải thưởng cho chiếc đàn tốt nhất, nó đã thuộc về cây đàn của Johann Scherzer ở Vienna và của Ivan F.Archusen ở Nga.

    Năm 1823, bà Hullin Sor, diễn viên múa ballet, đến Nga để biểu diễn một vài vở ballet được viết bởi chồng của bà là Fernando Sor. Sor cũng rời đến Nga, và ông đã viết bản song tấu guitar Souvenir de Russie với ký ức về những con người Nga qua lần đến thăm này.


    Những nhà soạn nhạc Italia:

    Fernando Carulli sinh ra ở Napoli vào năm 1770 và mất tại Paris vào năm 1841. Đầu tiên ông theo học cello, sau đó theo guitar và trở thành một trong những nghệ sĩ Italia tài danh về loại nhạc cụ này. Ở Paris, ông gây dựng tên tuổi của mình bằng những buổi biểu diễn độc tấu, sáng tác 360 bản nhạc và viết ba cuốn phương pháp học guitar mà đến nay vẫn còn rất giá trị. Ông chế tạo ra chiếc guitar có 4 dây bass, và những cuộc biểu diễn độc tấu của ông đã khiến Paris thành một trung tâm lớn của guitar.

    Người kế tục của Carruli là Matteo Carcassi (1792-1853). Ông đã phát triển những kỹ thuật của guitar lên cao hơn với quyển sách Complete Method for the guitar, và nó trở thành cuốn sách được nhiều người học nhất trong suốt thế kỷ 19. Quay trở lại Paris và đem theo những thành công rực rỡ trong các buổi biểu diễn tại Đức, Italia cũng như tại Anh, những cách thức chơi đàn của ông đã dần thay thế những phương pháp phổ biến của Carulli. Và không ai có thể phủ nhận rằng Carcassi là một nghệ sĩ vĩ đại.

    Niccolo Paganini (1782-1840) thường được biết đến như một nghệ sĩ bậc thầy về violin nhưng ông còn là một cao thủ về guitar. Số lượng các tác phẩm viết guitar của ông nhiều như cho violin: hầu hết các tuyển tập nhạc đã xuất bản của Paganini đều có một phần guitar trong đó. 140 bản nhạc solo cho guitar, một số bản sonata cho violin và guitar, các bản tứ tấu cho violin, viola, cello và guitar, các bản tam tấu cho guitar và hai nhạc cụ dây. Tình yêu của Paganini với guitar chính là cầu nối giữa ông với rất nhiều nghệ sĩ guitar nổi tiếng trên thế giới, trong số đó co Zani de Ferranti và Legnani.

    Zani de Ferranti (1800-1878) được nói đến như là nghệ sĩ guitar vĩ đại nhất thời kỳ này. Ferranti đã đi nhiều nơi hơn bất cứ nghệ sĩ ngày đấy. Ông dừng chân tại Mỹ và được công nhận là nghệ sĩ bậc thầy đầu tiên lưu diễn khắp nước Mỹ. Ông cũng sáng tác một số tác phẩm, bao gồm những bản fantasia, nocturne và các khúc biến tấu.

    Trong những năm này, xuất hiện một nhân vật đầy quan trọng là Napoleon Coste (1806-1883). Khẳng định bản thân tại Paris năm 1830, nơi mà ông gặp gỡ với rất nhiều các guitarist nổi tiếng khác như Aguado, Sor, Carcassi, Carulli, và ông biểu diễn cho đến năm 1863 khi một tai nạn rủi ro đã cướp đi bàn tay phải của ông. Số lượng tác phẩm của ông khoảng 50 bài và ông là một trong những guitarist đầu tiên nỗ lực chuyển biên những ký hiệu âm nhạc thế kỷ 17 sang ký hiệu hiện đại. Thực vậy, đóng góp quan trọng đó của ông đã làm hồi sinh và thúc đẩy sự yêu thích đối với âm nhạc guitar của thời kỳ Baroque.

    Đóng góp vào sự thành công trong các buổi biểu diễn guitar không thể không nhắc tới vai trò quan trọng của những người thợ làm đàn. Trong số những thợ làm đàn nổi tiếng thời gian này có gia đình Fabricatore. Gennaro Fabricatore đã làm việc trong nửa đầu của thế kỷ 19 và kiểu dáng đàn của ông đã dẫn dắt cho hình mẫu hiện đại của guitar được phát triển vào nửa sau của thế kỷ. Còn ở Paris, René François Lacôte cũng nổi lên như một thợ làm đàn xuất chúng của thời kỳ này.

    Điều dễ thấy nhất của guitar thế kỷ 19 là một số lượng lớn các buổi lưu diễn, những buổi hòa nhạc thính phòng với sự góp mặt của cây đàn guitar. Trong số những nhà soạn nhạc sở hữu một số lượng tác phẩm đồ sộ gồm có Johann Bayer, Joseph Küffner, Johann Kapeller và Johann Kaspar Mertz (1806-1856). Mertz đã sử dụng guitar 8 dây và sau đó là guitar 10 dây.

    Có lẽ một trong những sự phát triển đáng chú ý nhất ở thế kỷ 19 là thời kỳ phục hưng của guitar tại Anh. Vào buổi đầu của sự phát triển guitar, đất nước đó hai giai đoạn phát triển, tuy nhiên, ở giai đoạn đầu nó không được chú trọng. Khi London trở lại, vào thế kỷ 19, nó trở thành trung tâm âm nhạc sánh ngang với Paris, Vienna và St-Petersburgh, lôi cuốn một số lượng lớn các guitarist, theo cách đó đã làm hồi sinh và làm sâu sắc thêm sự yêu thích của mọi người với nhạc cụ này. Có thể đoán được rằng, những người thợ làm đàn đã rất thịnh vượng tại Anh thời kỳ này.


  12. 3 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới HungMusic_NT cho bài viết hữu ích này:


  13. #7
    HungMusic_NT's Avatar
    Ngày tham gia
    11-01-2011
    Đang ở
    ♫ Khánh Hòa ♫
    Bài viết
    4,799
    Thanks
    14,792
    Được THANKS 24,250 lần
    Các nghệ sĩ guitar Tây Ban Nha:


    Thế kỷ 19 là thời kỳ mà đất nước Tây Ban Nha đã sản sinh ra rất nhiều danh cầm nổi tiếng. Âm nhạc guitar tại đây phát triển rất hưng thịnh. Cho đến bây giờ, các nghệ sĩ Tây Ban Nha vẫn đạt được những thành công hết sức rực rỡ bên ngoài lãnh thổ của họ. Fernando Sor là một minh chứng cho việc đó.

    Dionisio Aguado (1784-1849) là một danh cầm nổi tiếng và cũng là một sáng tác gia. Ông đã viết cuốn Metodo para guitarra và đó là một trong những cuốn phương pháp dạy học guitar hay nhất của thế kỷ 19. Nó đã được dịch ra rất nhiều ngôn ngữ khác và tái bản một số lần. Ông còn đề xướng việc sử dụng chiếc kê chân khi ngồi chơi đàn.

    Julian Arcas (1832-1882) là một danh cầm người Tây Ban Nha khác. Sau khi lưu diễn khắp Tây Ban Nha, ông tới Anh và biểu diễn ở Cung điện Hoàng gia Brighton Pavilion trước các thành viên trong gia đình Hoàng gia. Các bản nhạc ông chơi được tán dương nhiệt liệt. Sau đó, ông quay trở lại Tây Ban Nha, tiếp tục biểu diễn và trở thành giáo sư tại Nhạc viện Hoàng gia. Trong suốt cuộc đời của ông, đã có không dưới 80 tác phẩm được xuất bản.

    Francisco Tarrega:

    Điều chắc chắn rằng người có đóng góp quan trọng nhất trong giảng dạy và xây dựng phương pháp kỹ thuật guitar của Tây Ban Nha là Francisco Tarrega (1852-1909). Những tác phẩm của ông được xếp vào hàng ngũ những tác phẩm hay nhất vào giai đoạn cuối của thế kỷ 19.

    Tarrega được truyền dạy guitar từ năm lên tám. Sau đó ông theo học piano và sáng tác tại Nhạc viện ở Madrid. Tại đây, ông vừa học vừa giảng dạy thêm cho con cái của những nhà quý tộc. Tarrega còn dạy tại Nhạc viện ở Barcelona và chuyển soạn hơn 100 tác phẩm của Bach, Handel, Mozart và Schubert. Thêm vào đó, ông còn sáng tác các bản prelude, waltz, các bài tập kỹ thuật cho guitar, nó biểu lộ sự phức tạp trong hòa âm và kỹ thuật cao trong phương pháp chơi guitar của ông. Thay đổi lớn nhất trong tư thế chơi đàn của ông, đó là bàn tay phải giờ đây đặt vuông góc với dây đàn thay vì để xiên như trước.

    Tài năng của Tarrega đã được khẳng định hết sức rõ ràng và sự những cống hiến của ông đã thúc đẩy sự phát triển kỹ thuật trình tấu của guitar hiện đại. Nó góp phần đem lại một sức sống mới cho guitar, thứ nhạc cụ tưởng như đã bị suy tàn vào những giai đoạn trước. Nơi đây còn sản sinh ra những nhà soạn nhạc, những người đã khiến tiếng tăm đất nước Tây Ban Nha vang xa khắp thế giới: Isaac Albéniz (1860-1909), Enrique Granados (1967-1916) và Manuel de Falla (1876-1946). Albéniz trở thành nghệ sĩ piano đỉnh cao của thế kỷ này. Rất nhiều các tác phẩm ông viết được chuyển soạn sang cho guitar rất thành công, và người đóng góp không nhỏ trong công việc chuyển soạn đó chính là F.Tarrega.

    Sau khi Tarrega mất vào năm 1909, những tác phẩm của ông sau này đã những môn đệ sưu tập, trong số đó có Emilio Pujol, Miguel Llobet, Daniel Fortea và Alberto Obregón.


    Antonio Torres-Người thợ làm đàn tài danh:

    Sánh ngang với những thành tựu mà Tarrega đã đạt được trong việc xây dựng cây đàn guitar, đó là người thợ làm đàn trứ danh Antonio Torres Jurado (1817-1892).


    Ông nhấn mạnh tầm qua trọng của mặt trước thùng đàn trong việc phát ra âm thanh, và ông đã tăng cường các thanh trợ lực phía dưới của mặt trước thùng đàn nhằm làm tiếng đàn vang to hơn. Tuy nhiên, Pages (thợ làm đàn mà Sor và Aguado rất đề cao) đã sử dụng các thanh trợ lực từ những năm 1790. Panormo, một thợ làm đàn khác cũng đã sử dụng chúng trong những cây đàn Tây Ban Nha từ những năm 1820.

    Antonio Torres sử dụng dây đàn có độ dài 650 mm, độ dài được sử dụng cho đến ngày hôm nay. Bên cạnh đó, những thợ làm đàn khác như Stauffer làm dây dài 647 mm, Lacote làm dài 650 mm…-phụ thuộc vào kích cỡ bàn tay của người chơi. Chiều dài dây đàn của Torres được gọi là “chuẩn” bởi mọi người đều phỏng theo nó khi làm đàn. Torres còn chuẩn hóa chiếc ngựa đàn bắt nguồn từ cây đàn thời Baroque, và nó trở thành chuẩn chung của toàn bộ những cây đàn Tây Ban Nha trong suốt thế kỷ 19.

    Những người thợ làm đàn khác:

    Fernando Sor đã đề cập đến một vài thợ làm đàn trong cuốn Menthod for the Spanish Guitar, bản dịch tiếng anh xuất bản bởi Tecla Editions:

    “Ông J.Panormo đã làm một vài cây đàn guitar theo yêu cầu của tôi, nó tốt như cây đàn của Schroeder ở Petersburgh…Những cây đàn guitar của Naples thường dài hơn, và nếu tôi muốn một nhạc cụ, tôi sẽ đặt mua nó từ Joseph Martinez của Malaga, hoặc từ Lacôte, một thợ làm đàn người Pháp, người duy nhất có thể chứng minh cho tôi thấy chất lượng tuyệt với của cây đàn… Những cây đàn mà tôi thường xuyên đem theo là của Alonzo (Madrid), Pages và Benediz (Cadiz), Joseph và Manuel Martinez (Malaga), hoặc của Rada, và cả những cây đàn của Lacôte (Paris) nữa. Tôi không nói rằng ngoài những người kể trên không còn thợ làm đàn nào khác, nhưng họ không bao giờ bằng được, và tôi cũng không thể nói về những người thợ làm đàn và những cây đàn của họ mà tôi không biết đến”.

    Trong thế kỷ 19, hầu như mỗi thợ làm đàn đều có tạo ra sự khác nhau trong hình dáng, kích cỡ và phong cách chế tạo cây đàn guitar. Torres đã khoét xung quanh lỗ thoát âm những rãnh tròn đồng tâm, và nhét những miếng gỗ rất nhỏ vào đó để trang trí. Kiểu cách trang trí này còn tồn tại tới ngày hôm nay. Tarrega lại thích âm thanh của cây đàn guitar do Arcas làm ra. Nó nhỏ hơn nhưng ấm áp hơn so với guitar hiện đại ngày nay.


    Sự phổ biến của guitar tại Châu Mỹ:

    Cây đàn guitar đã được biết tới tại nơi đây vào những buổi đầu của thế kỷ 16, khi mà người Tây Ban Nha di dân tới đây. Việc di cư của những nghệ sĩ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã làm cho nhạc cụ này ngày càng phổ biến, và ở Nam Mỹ, sự tích cực của họ không chỉ đẩy mạnh sự phát triển của guitar mà còn tạo nên những giai điệu đặc trưng ở mỗi đất nước nơi đây.

    Kết quả của sự phát triển này là số lượng các guitarist cũng như những thợ làm đàn được biết tới ở Bắc và Nam Mỹ ngày càng tăng lên.

    Sự nổi lên của guitar của guitar đã tạo nên một nhu cầu lớn về nhạc cụ này. Vào giai đoạn cuối thế kỷ 19, nhu cầu tăng đã làm xuất hiện những xưởng sản xuất bằng máy móc theo dây truyền bên cạnh những phương thức sản xuất thủ công truyền thống.

    Theo một vài đánh giá, những sự kiện nổi bật của thế kỷ 19, đó là sự thay đổi của guitar, những cơ hội lưu diễn, sự phân bố rộng khắp của loại nhạc cụ này - có thế xem như điều tất yếu và là một phần có thể dự đoán được của quá trình phát triển. Những phương thức chế tạo lâu đời hoàn toàn bằng tay đã được thay thế bởi những máy móc hiện đại.
    Rất nhiều sự thay đổi của thời kỳ này hứa hẹn sẽ đem tới một bộ mặt mới cho guitar của thế kỷ 20.

  14. 2 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới HungMusic_NT cho bài viết hữu ích này:


  15. #8
    HungMusic_NT's Avatar
    Ngày tham gia
    11-01-2011
    Đang ở
    ♫ Khánh Hòa ♫
    Bài viết
    4,799
    Thanks
    14,792
    Được THANKS 24,250 lần
    7. Thế kỷ 20:
    Thế kỷ 20 tiếp tục như một minh chứng cho sự trỗi dậy như sóng cồn của cây đàn guitar trong sự thừa nhận nghiêm túc về nhạc cụ nghệ thuật này. Không thời điểm nào trong lịch sử cây đàn guitar lại được chào đón nồng nhiệt như vậy trong các buổi hòa nhạc ở khắp mọi nơi.

    Có hai nguyên nhân cơ bản khiến cho guitar trở nên phổ biến ở khắp mọi nơi như ngày hôm nay. Nguyên nhân đầu tiên và hết sức hiển nhiên thuộc quyền sở hữu của thế kỷ 20. Đó là sự tiến bộ trong cuộc cách mạng kỹ thuật, sự phát triển của các phương tiện truyền thông và nhanh hơn nữa, những phương tiện giao thông tân tiến tạo nên một hiệu quả to lớn làm diện mạo của cây đàn guitar ngày càng nổi tiếng hơn. Radio, tivi, công nghệ thu âm, các vệ tinh nhân tạo, máy bay đã góp phần đẩy nhanh sự bao trùm rộng khắp của nhạc cụ này. Các nhà soạn nhạc giờ đây có thể tổ chức tour lưu diễn hòa nhạc trên khắp thế giới một cách dễ dàng. Họ có khả năng tạo dựng được một số lượng khán thính giả khổng lồ - không chỉ những người có mặt tại những buổi biểu diễn mà còn những người xem qua màn ảnh nhỏ, nghe qua đài phát thanh và những băng ghi âm, và còn hàng triệu người sử dụng internet nữa. Nhiều người hơn, bởi vậy, đã kéo theo sự tham gia của các nhà soạn nhạc, các nghệ sĩ biểu diễn cũng như những khán thính giả; rất nhiều cơ hội được tạo ra để khuấy động sự yêu thích guitar trong lòng công chúng. Nguyên nhân thứ hai, đó là sự mở rộng, kết quả tất yếu của sự phát triển của cây đàn guitar trong những thế kỷ trước.

    Guitar được làm sống lại vào giai đoạn cuối của thế kỷ 19, những kỹ thuật của nó được tạo nên bởi Tarrega có một vị trí hết sức đặc biệt, sẵn sàng cho bước đi tiếp mà chúng ta biết đến như một kỹ thuật guitar hiện đại. Những thợ làm đàn vĩ đại, đáng chú ý nhất là Torres, đã phát triển nhạc cụ này với những trang trí không cầu kỳ, làm hình mẫu cho guitar cổ điển ngày nay.

    Tarrega có rất nhiều học trò nổi tiếng nhưng Miguel Llobet (1878-1937) là học trò số một của ông. Llobet đã từng lưu diễn khắp Tây Ban Nha. Ông xuất hiện tại Paris, Anh, Mỹ, Nam Mỹ, Berlin, Vienna, và ngoài ra còn có những buổi biểu diễn ngắn tại hầu hết các nước phương Tây. Llobet được công nhận là nghệ sĩ bậc thầy của guitar.

    Llobet có rất nhiều học trò nổi tiếng trong giới guitar ngày nay. Một vài trong số đó có Maria Luisa Anido (1907-) và José Rey de la Torre người Cuba.

    Nghệ sĩ vĩ đại của thế kỷ 20 là Andres Segovia (1893-1987), bạn thân của Miguel Llobet. Segovia cảm thấy sự thôi thúc của bản thân trong việc phát triển những kỹ thuật của guitar. Ông đã đổi mới từ kỹ thuật của Tarrega, và một trong số đó là sự thay đổi đáng kể về bàn tay phải, đem lại sự tinh tế trong tiếng đàn. Hàng năm, trong hơn nửa thế kỷ, ông có những buổi lưu diễn trên khắp thế giới và có vô số những buổi phát thanh trên radio cũng như những buổi biểu diễn được trình chiếu trên tivi.

    Sự lôi cuốn của guitar đối với Segovia đã đem đến những buổi biểu diễn vượt ra mọi sự tưởng tượng. Ông cũng chính là người đã tạo cảm hứng cho những nhà soạn nhạc đượng đại sáng tác cho nhạc cụ này. Mario Castelnuovo-Tedesco viết bản concerto đầu tiên cho guitar trong thế kỷ 20. Ngoài ra, Manuel Ponce (Mexico), Joaquin Rodrigo (Tây Ban Nha) và Alexander Tansman (Ba Lan) cũng đã viết những bản nhạc rất tuyệt vời cho guitar.

    Segovia có một số lượng đông đảo các môn đệ. Alirio Diaz là học trò nổi tiếng của Segovia và đã trở thành một trong những nghệ sĩ guitar hàng đầu của thế giới, gặt hái được những thành công đặc biệt với âm nhạc Châu Mỹ-Latinh.

    Một nghệ sĩ guitar Tây Ban Nha khác là Narciso Yepes (1927-1997), với cây đàn guitar 10 dây, cũng sở hữu những kỹ thuật tuyệt hảo. Ông tổ chức buổi hòa nhạc trước công chúng lần đầu vào năm 20 tuổi và đã trở thành guitarist nổi tiếng trên toàn thế giới. Ngoài ra cũng có những nghệ sĩ mang tầm vóc quốc tế đến từ những đất nước khác như Karl Scheit hay Konrad Ragossnig.

    Hai nghệ sĩ nữa được rất nhiều người yêu thích, đó là Julian Bream (1933-) và John Williams (1941-). Nhiều người còn nói rằng, họ yêu thích hai nghệ sĩ đó hơn cả Segovia cũng như những học trò khác của ông.

    Julian Bream

    Julian Bream sinh vào ngày 15/07/1933 tại Battersea, Anh. Ở Royal College of Music, ông theo học piano, cello và sáng tác. Buổi diễn lần đầu của Bream ở London là tại Wigmore Hall vào năm 1951. Kể từ đó ông sống cuộc sống của một nghệ sĩ bận rộn và thành công, thời gian của ông được dành cho phòng thu và các buổi hòa nhạc. Các tác phẩm ông trình tấu rất đa dạng, phong phú và ông nổi tiếng không chỉ với guitar mà còn cả cây đàn lute nữa. Các tiết mục biểu diễn của ông trải dài từ những bản nhạc như Chaconne của Bach tới những tác phẩm của các nhạc sĩ đương đại. Ông có một vai trò hết sức to lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của guitar hiện đại.

    John Williams

    Sinh ra tại Australia năm 1941, John Williams bắt đầu học nhạc từ cha của mình, người sáng lập ra Trung tâm đào tạo Tây Ban Cầm ở London. Năm 1952, ông được giới thiệu và sau đó làm học trò của Segovia. Theo lời khuyên của Segovia ông gia nhập Học viện Âm nhạc Chigiana tại Siena. Trở lại Anh, ông học piano và lý thuyết âm nhạc từ năm 1956 đến năm 1959. Lần trình diễn đầu tiên của Williams ở London là tại Wigmone Hall vào năm 1958, và không lâu trước khi tên tuổi của ông trở lên nổi tiếng ở Anh cũng như ở nước ngoài.

    Ngày nay, John Williams là một trong những nghệ sĩ guitar cổ điển tài danh với kỹ thuật điêu luyện. Các tiết mục của ông phong phú và đa dạng từ những bài chuyển thể từ các bản nhạc dành cho lute thời kỳ đầu đến các tác phẩm của những nhà soạn nhạc Nam Mỹ và đương đại. Âm nhạc của ông dần có xu hướng phi cổ điển. Ông đã từng thử thể hiện nhạc Jazz trên nền các tác phẩm của Bach, Scarlatti, Villa-Lobos và Albéniz, thậm chí cả thể loại guitar điện và nhạc pop.

    Song tấu guitar bắt đầu trở lên phổ biến bởi bộ đôi Alexandre Lagoya và Ida Presti, sau đó số lượng những người chơi song tấu với nhau ngày một tăng lên, cũng như các bản nhạc viết cho họ.

    Eliot Fisk

    Elist Fisk, sinh ra tại Philadelphia, ông đã dành được bằng thạc sĩ âm nhạc tại trường đại học Yale, nơi ông học cùng nghệ sĩ harpsichord Ralph Kirkpatrick. Ngay sau khi tốt nghiệp, ông được đề nghị đứng ra sáng lập khoa Guitar tại trường đại học Yale. Năm 1974 ông được giới thiệu tới gặp thần tượng của mình, Andres Segovia, người sau đó dạy riêng ông trong vài năm. Bên cạnh sự nghiệp trình diễn của mình, Eliot Fisk có một sự quan tâm sâu sắc tới việc dạy nhạc. Ông là giáo sư về guitar tại trường Mozarteum ở Salzburg (Áo), nơi tập trung rất nhiều nghệ sĩ guitar trẻ tài năng từ nhiều quốc gia khác nhau. Ông cũng quản lý rất nhiều các lớp đào tạo thạc sĩ và mở rất nhiều lớp ở khắp nơi trên thế giới. Là một người ưa mạo hiểm và làm việc không ngừng nghỉ, với trí tưởng tượng phong phú của mình, ông đã đem đến một hướng đi hoàn toàn mới trong trình diễn guitar cổ điển. Ông cũng sáng tác ra một khối lượng lớn các bản guitar cũng như chuyển soạn một số lượng lớn các tác phẩm của Bach, D.Scarlatti, Haydn, Mozart, Mendelssohn, Granados, Albéniz và các nhạc sĩ khác. Không chỉ là một nghệ sĩ độc tấu nổi tiếng, ông còn thường xuyên trình diễn trong các buổi nhạc hòa tấu.

    Sự phát triển xa hơn nữa của cây đàn guitar:

    Những thành tựu to lớn của các trường học guitar tại Tây Ban Nha được in dấu với những cây đàn của Santos, Hernandez và José Ramirez de Calaretta. Một thợ làm đàn khác người Đức cũng nổi lên ở thế kỷ này là Hermann Hauser. Những chiếc đàn của ông ngày nay được rất nhiều các guitarist sử dụng trong các buổi hòa nhạc.

    Kiểu dáng của cây đàn guitar trong quá khứ luôn giành được sự tôn trọng, và ngày nay qua những lần chỉnh sửa, cây đàn guitar ngày càng hoàn thiện. Dây nylon đã được thay thế cho dây làm bằng ruột thú trước đây. Đó được coi như một cuộc cách mạng của cây đàn guitar. Dây đàn được làm bằng chất liệu mới này khỏe hơn, không bị xuống dây thường xuyên và có một âm thanh thật tuyệt vời, điều mà đã được tìm kiếm bấy lâu nay.

    Ngày nay, guitar đã được quốc tế hóa. Cây đàn được truyền dạy trên khắp thế giới. Sau Thế chiến II, guitar trở nên phổ biến ở Nhật Bản và đất nước này đã sản sinh ra số lượng rất lớn các guitarist, các giảng viên guitar cũng như những thợ làm đàn.

    Những tờ báo quốc tế về guitar đã được in ra và được phát hành trên khắp thế giới: Tạp chí The Classical Guitar, xuất bản tại Anh, và tờ The Guitar Review, xuất bản tại NewYork, có số lượng phát hành lớn trên thế giới và cũng được đăng trên internet.

    Sự phát triển của xã hội, các mối liên kết và các tổ chức đã tạo điều kiện cho những hoạt động tích cực của guitar vươn xa hơn nữa. Nó như một bằng chứng về sự yêu thích của mọi người với nhạc cụ này. Ngày nay đã có rất nhiều những buổi biểu diễn độc tấu được tổ chức cho các nghệ sĩ trẻ, khuyến khích các sinh viên cống hiến bản thân như một sự truyền bá thích hợp cho guitar. Số lượng những buổi biểu diễn guitar được nhân lên với những cuộc đua tranh trong chính bản thân mỗi nước cũng như những cuộc đua tranh mang tầm cỡ quốc tế.
    End



  16. 4 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới HungMusic_NT cho bài viết hữu ích này:


Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •