Forum Home Your IP: 54.224.17.157

Trang 1 của 3 123 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 29

Chủ đề: Lý thuyết Hòa thanh Cổ Điển

  1. #1
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần

    Lý thuyết Hòa thanh Cổ Điển

    Mình Xin Gửi đến cả nhà lý thuyết hòa thanh bốn bè mong cả nhà ủng hộ mình nhé xin trân thành cảm ơn


  2. #2
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần
    PHẦN 1
    Hợp Âm và Hòa Thanh 4 Bè

    A- Vai trò và tầm quan trọng của môn hòa thanh học trong nghệ thuật âm nhạc
    * Định nghĩa:hòa thanh là sự kết hợp các âm thanh với nhau theo những quy luật nhất định.Mỗi chuỗi các âm thanh đó được sắp xếp với nhau 1 cách có nghệ thuật.tinh tế,nhằm tạo nên cơ sở của giai điệu.Sự hòa hợp cùng 1 lúc các âm thanh đó là cơ sở của hòa thanh.
    * Các phương tiện thể hiện của hòa thanh
    1- các hợp âm
    2- nhóm các hợp âm
    3- điệu tính
    4- Nhóm các điệu tính.v.v
    đó là nhưng phươgn tiện không có gì có thể thay thế được.Chúng có 1 phạm vi rông rãi,bằng nhiều khả năg thể hiện khác nhau của âm nhạc,mang những đặc trưng của hòa thanh.
    Sự thống nhất của hòa thanh và giai điệu được thể hiện 1 cách rõ ràng trong các tác phẩm âm nhạc nhiều giọng mang tính chủ đề.vai trò thể hiện tính chất chủ đề là ở phần giai điệu nhưng hòa thanh làm phong phú thêm phần giai điệu.nó làm cho giai điệu được thể hiện sâu sắc hơn,rung cảm hơn và nhiều vẻ hơn.hòa thanh có tác dụng tích cực vào tính cách của giai điệu.
    nhạc sĩ nga Glinka đã từng nói "Nhiệm vụ của hòa thanh là vẽ thêm cho người nghe những đương nét mà trong giai điệu ko có và không thể có được...nó làm cho tư tưởng âm nhạc có 1 giá trị nhất định và nói tóm lại,nó là cho giai điệu có tính sông động"
    *So sánh âm nhạc với hội họa
    Giai điệu là hình vẽ còn hòa thanh là màu sắc
    Hòa thanh giúp cho việc phân chia tác phẩm thành tưng phần hoàn thiện và sự liên hệ của của nhưng phần đó trong 1 tổng thể thống nhất.Vì trong hòa thanh có 1 số chông âm thể hiện sự phát triển,chuyển động,còn ở 1 số chồng âm khác nhưng chuyển động đó ngừng lại gây nên cảm giác ổn định,hoàn toàn.
    B- Hợp âm và hòa thanh bốn bè
    I-HỢP ÂM
    1-Định Nghĩa
    Hợp âm là sự kết hợp cùng 1 lúc 1 vài âm thanh có cao độ khác nhau được sắp xếp theo quãng 3(hay nói 1 cách đơn gian hợp âm là 1 chồng âm gồm 3 nốt trở lên.từ nốt này đến nốt kia cách nhau 1 quãng 3)
    Những hợp âm có cấu trúc theo kiểu quãng 3 có
    Hợp âm năm,hợp âm bẩy,hợp âm chín.chúng được xây dựng tù 3,4 và 5 âm.
    Thí dụ
    http://upanh.com/uploads/14-Sep-2009/t4ubhr3egwwcyp4h28k1.jpg[/IMG][/URL][IMG]
    Hợp âm 5 và hợp âm 7 là những hợp âm được dùng nhiều nhất rộng rãi nhất.
    Ngoài ba hợp âm trên trong tác phẩm âm nhạc còn có thể gặp các hợp âm cấu tạo bằng nhiều hợp âm hơn và cũng được xếp theo quãng 3
    2- Tên các hợp âm
    Các hợp âm có tên gọi như sau.
    -Âm dưới cung của hợp âm gọi là âm gốc hay âm 1.những âm còn lại của hợp âm được gọi theo qunagx mà chúng tạo thành với âm gốc.
    -Âm thứ 2 gọi là âm 3
    -Âm thứ 3 gọi là âm 5
    -Âm thứ 4 gọi là âm 7
    -Âm thứ 5 gọi là âm 9
    (Tên các âm giữ nguyên trong mọi cách sắp xếp của hợp âm)
    Thí dụ
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    3-Các dạng của hợp âm
    các hợp âm có thể đươc viết dưới dạng nguyên vị hay hợp âm đảo
    Hợp âm đảo là hợp âm có bè trầm ko phải là âm gốc
    -Khi bè trầm là âm 3 đó là hợp âm đảo 1
    -Khi bè trầm là âm 5 đó là hợp âm đảo 2
    -Khi bè trầm là âm 7 đó là hợp âm đảo 3
    4-Tên gọi các hợp âm đảo
    -Hợp âm đảo 1 gọi là hợp âm sáu (ký hiệu 6)
    -Hợp âm đảo 2 gọi là hợp âm sáu bốn (ký hiệu 6/4)
    Thí dụ
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    *Hợp âm 7 có 3 dang đảo.
    -đảo 1 gọi là hợp âm 6/5
    -đảo 2 gọi là hợp âm 4/3
    -đảo 3 gọi là hợp âm 2
    Thí dụ[Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    II- Hòa Thanh Bốn Bè
    1
    Âm nhạc 4 bè có đặc điểm là cho phép hòa thanh vang lên đầy đặn và sự chuyển động của giai điệu ở mỗi bè có tính độc lập tương đối :Soprano,Anto,Teno,Bass.Tên các giọng này là đặc trưng của các thể loại hợp xướng,nhưng cũng dùng cho cả nhạc đàn.Ở đây bè cao nhất(Soprano) đựoc gọi là bè giai điệu
    Sự trình bày Bốn bè của hợp âm năm được xây dựng bằng cách tăng đôi 1 trong số các âm của hợp âm đó.thông thường tăng đôi âm gốc.tăng đôi âm 3 và 5 ít gặp vì điều kiện tiến hành bè(bài sau mình sẽ nói cụ thể hơn với từng trường hợp)
    Sự trình bày bốn bè của hợp âm bẩy ko phải tăng đôi âm.
    Hợp âm còn có thể dùng với dạng không đầy đủ của các âm.Ở những truơng hợp này thông thương là bỏ âm 5.vì hợp âm thiếu âm 5 khi vang lên vẫn tương đối đầy đạn.Âm 3 của hợp âm là âm xác định tính chất của hợp âm do đó ko thể bỏ âm 3.tromng hợp âm ko đầy đủ người ta thường tăng 3 âm gốc hoặc đôi khi 2 âm 3.
    Thí Dụ5
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    2-Vị trí giai điệu của hợp âm
    Trong âm nhạc chủ điệu bè cao nhất của hợp âm có giá trị lớn nhất,thông thường nó diễn tả giai điệu chính của tác phẩm.Vi trí giai điệu của hợp âm sẽ xác định xem âm thanh nào của hợp âm nàm ở bè giai điệu.nó thống trị các âm khác và nhấn mạnh khảng cách các bè ngoài cùng.
    Hợp âm 5 có 3 vị trí giai điệu:âm 1 âm 3 và âm 5
    Hợp âm 7 có 4 vị trí giai điệu:âm 1 âm 3 âm 5 và âm 7
    Thí DỤ6
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    3-Các sắp xếp các hợp âm năm
    Khi viết hòa thanh bốn bè người ta phân chia như sau:viết bằng 2 khuông nhạc.1 khuông viết hai bè.trong mỗi khuông nhạc bề cao đuôi quay lên bè dưới đuôi quay xuống
    Thí Dụ 7
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Trong hòa thanh 4 bè các hợp âm có nhiều cách sắp xếp.Dựa vào khoảng cách của 3 bề trên mà người ta phân biệt cách sắp xếp rông hay hẹp
    -Ở cách sắp xếp hẹp ba bè trên bè nọ cách bè kia không rộng quá quãng 4
    -Ở bè rộng,khoảng cách giữa các bè ở ba bè trên tù quãng 5 đến 1 quãng 8
    Khaong cách giữa bè Bass và Teno ở 2 cách sắp xếp đều có thể từ đồng âm cho tới 2 quãng tám.Ngoài 2 cách sắp xếp trên ta còn có cách sắp xếp hỗn hợp giữa rông và hẹp(mình sẽ nói kỹ ởcacs phân tiếp theo)
    trông âm nhạc chủ điệu có những trương hợp xuất hiện bè phụ nhắc lại 1 bè chính nào đó ở cách quãng tam.thông thường được dùng nhiều là 2 bè ngoài cùng(chú ý: đến thủ pháp này khi phân tích tác phẩm.mình sẽ viêt phần phân tích tác phẩ ngay sau khi giới thiệu hết phần hòa âm cho các bạn)
    Thí Dụ8


  3. #3
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần

    Hệ Thống Chức Năng Của Hợp Âm Năm Chính Gốc

    Hệ Thống Chức Năng Của Hợp Âm Năm Chính Gốc
    (hay còn gọi là hợp âm 3 chính gốc.đây là cách gọi mới của chúng ngày nay
    )
    I-Điệu Thức:
    Trong đơn điệu, điệu thức là tổng hợp của các âm thanh trong 1 bản nhạc.Các âm thanh đó quan hệ với nhau theo 1 quy định,chúng kết hợp lại trên cơ sở của sự ổn định và không ổn định chung quanh âm chủ.
    -Về phương diện hòa thanh thì điệu thức thứ là hệ thống các hợp âm có mối quan hệ với nhau,kết hợp bởi sức hút về âm chủ(là hợp âm được xây dựng trên chủ âm của điệu thức).
    Trong quá trình phát triển hòa thanh ở 1 điệu thức nhất định sẽ xuất hiện những mối quan hệ qua lại có quy luật của hợp âm.
    II-Chức năng của điệu thức:
    Chức năg của điệu thức là của vai trò của âm hay hợp âm trong mối quan hệ của nó với các âm hay hợp âm khác trong điệu thức.Đó là mối tương quan giữa âm hay hợp âm này với âm hay hợp âm khác.Mối tương quan ấy được thể hiện trong sự kết hợp các trạng thái căng thảng và dịu xuống(giải quyết)khi nối tiếp các hợp âm với nhau.Tính căg thẳg diu xuống vốn có trong những mối tương quan chức năg được gọi là tính chức năg.
    Cơ sở của tính chức năg đặc biệt thể hiện rõ giữa hợp âm chủ với các hợp âm khác
    III-Hệ thống chức năg của hợp âm 3 chính(5 chính):
    Hợp âm chủ là hợp âm được xây dụng trên bậc 1,nó là trung tam là chỗ dựa chính của điệu thức.Vì nó biểu hiện được tính ổn định cần thiết khi kết thúc 1 ý nhạc.Giá trị của âm chủ thường được nhấn mạnh bởi các điều kiện nhất định về giai điệu ,tiết nhip,nhịp phách…(vi dụ thông thương trong 1 đoạn nhạc hợp âm chủ thương để ở phách mạnh.nhịp kéo dài,nó vang lên ở những đoạn riêng biệt trong tác phẩm nhiều hơn các hợp âm khác)
    Các hợp âm khác đều hút về chủ
    Hợp âm chủ có ký hiệu là “T” ở trương và “t” ở thứ( chữ đầu củ từ Tonique)
    Về mặt chức năng các hợp âm khác đều phụ thuộc vào hợp âm chủ.Trong số các hợp âm này nổi bật lên hai hợp âm đại diện đáng kể nhất cho tính chất bất ổn định của điệu thức.đó là hai hợp âm xây dựng trên bậc IV và bậc V của điệu thức.
    -Hợp âm năm xây dựng tên bậc V của điệu thức là hợp âm át,ký hiệu D ở điệu trưởng và thứ hòa thanh,d điệu thứ tự nhiên.(viết tắt chữ Dominante)
    -Hợp âm năm xây dựng trên bậc IV của điểu thức là hợp âm hạ át,ký hiệu ở S ở điệu trưởng và s ở điệu thứ(chứ cái đầu của từ Soudominante)
    Thí Dụ:

    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Các hợp âm T-S-D ở điệu trưởng và t-s-d ở điệu thứ là các hợp âm năm chính của điệu thức.Ở trưởng thì chúng là trưởng tự nhiên, còn ở thứ thì chúng là thứ hòa thanh nghĩa là bậc 7 của chung được tăng lên nửa cung.
    Tuy nhiên để tăng cường sức hút vê chủ âm ta dùng điệu thứ hòa thanh có nghĩa là âm bậc bẩy được tăng lên nửa cung.Vì thế d của thứ sẽ la trưởng ta có công thức sau t-s-D.
    Tính ổn định và ko ổn định của các hợp âm bao giờ cũng chỉ có tính tương đối.Phải có sự so sánh giưa chúng với nhau mới rõ được,nếu tách rời từng hợp âm nó sẽ trở nên vô nghĩa
    IV-Các vòng hòa thanh:
    Sự nối tiếp mạch lạc của 1 số hợp âm sẽ tạo thành vòng hòa thanh.
    *Cách tiến hành:
    Sau hợp âm chủ T đưa vào 1 hay nhiều hợp âm ổn định,chúng tạo nen sự căng thẳng và được giải quyết dịu xuống bằng cách quay trở lại hợp âm chủ
    T(ổn định)--------->Không phải hợp âm T(ko ổn định)--------->T(Ổn định)

    Tuy nhiên mức độ ko ổn định của các hợp âm cung khác nhau.Nhưng hợp âm ko chứa âm dẫn và ko có các âm của hợp âm chủ (T) là những hợp âm ko ổn định nhất.
    Trong âm nhạc người ta phân biệt 2 loại sức hút cảu các hợp âm ko ổn đinh:sức hút giai điệu va hòa thanh.
    +Súc hút hòa thanh được tạo ra trên cơ sở chuyển động dần dần từ những bậc ko ổn định của điệu thức đến những bạc ổn định.chúng đươc biểu hiện bằng các vong công năng chính như T-D-T,T-S-T,T-S-D-T….va chúng đươc chia lam 2 loại ổn đinh và ko ổn định
    Vòng hòa thanh ổn định được kết thúc bằng hợp âm chủ(T).Vòng hòa thanh ko ổn định được kết thúc bằng hợp âm at(D) hay hạ át(S)
    *Các vòng hòa thanh có tên gọi như sau:
    a,kiểu nối tiếp các hợp âm chủ (T) và át (D) gọi là chính cách T-D-T:T-D-D-T….
    Các vòng hòa thanh ko ổn định gọi là nủa chính cách
    T-D;D-T-D
    b, kết nối tiếp các hợp âm chủ(T)và hạ át(S) gọi là vòng biến cách. T-S-T,S-T
    Các vòng ko ổn định gọi là nửa biến cách T-S,S-T-S
    C,khi nối tiếp đủ cả 3 chức năg gọi là vong hòa thanh đầy đủ:T-S-D-T;D-T-S-D-T
    * tính chất của vòng hòa thanh đầy đủ:
    - Sự quay lại hợp âm chủ được đẩy lùi ra xa làm cho trạng thái ko ổn định đươc kéo dài
    -Tạo nên sự va chạm giữa các chức năng không ổn định S và D sự va chạm này được giải quyết bằng cách quay trở về âm chủ
    -Điệu thức được bộc lộ rõ hơn vì các chức năng chính của nó đều được biểu hiện
    Kết Hợp Các Hợp Âm Năm Chính
    Vòng hòa thanh sẽ hình thành bởi sự kết hợp các hợp âm với nhau.Cơ sở kết hợp các hợp âm là sự tiến hành cảu từng bề trong nhiều bè phát ra cùng một lúc
    I-Cách tiến hành các bè:
    1-Tiến hành của một bè:
    Sự chuyển động của từng bè riêng biệt có thể theo hai cách tiến hành:Bước lần hay Bước nhẩy
    -Tiến hành lần còn gọi la lối tiên hành bình ổn cuả giai điệu mà nốt nọ cách nốt kia 1 quãng 1,2 hay 3
    Thí Dụ:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Cách tiến hành bình ổn ở từng bè được sử dụng nhiều trong các tác phẩm nghệ thuật
    -Lối tiến hành bước nhấy là sự chuyên động của bè theo các quãng 4,5 và 6…
    Thí dụ:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Sự kết hợp của chuyển động bước nhẩy là quy luật của đường nét giai điệu.điều này thường được thực hiện như sau:sau bước lần là bước nhảy ngược lại,hay sau chuyển động bước lần thì xuất hiên bước nhẩy ngược lại.
    Các bè ngoài cùng,bè giai điệu và bè bass có ý nghĩa giai điệu đặc biệt với tư cách là đường viền quanh của sự chuyển động hòa âm
    Trong cách tiến hành bè cần phải xem xét đến tính chất không tự nhiên của 1 vài bước đi.Nguyên tắc chung là tránh những bước đi có các quãng tăng.nên thay thế bằng các quãng giảm.
    Thí Dụ:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Bước đi của quãng 7 trưởng ít tự nhiên hơn so với bước đi của quãng bảy thứ
    Thí Dụ:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Cần tránh đường nét giai điệu không tự nhiên khi nó tạo thành 2 Bước nhảy quãng4 hoặc quãng 5 quãng 7 trưởng và quãng 9
    Thí du:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    2-Sự tiến hành của 2 bè:
    a,Tiến hành cùng hướng:chuyển đông của 2 bè cùng đi lên hoặc cùng đi xuống.Nghĩa là các chuyển động theo cùng 1 hướng với các quãng thuận ko hoàn toàn như quãng 3 và quãng 6
    Thí Dụ :
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Một dạng đặc biệt của loại cùng hướng chuyển động song song.nghĩa là chuyển động theo cùng 1 hướng với các thuận ko hoàn toàn như quãng 3 và quãng 6.
    Thi Du:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    b,Tiến hành ngược hướng:là lối chuyển động của 2 bè khác nhau
    Thí Dụ:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    c,Tiến hành chếch hướng:là lối chuyển động của 1 bè đi lên hoặc đi xuống còn bè kia đứng yên.
    Thí Dụ:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Trong quá trình học tập ko được sự dụng các loại chuyển động song song mà khoảng cách hai bè là đông âm,quãng 8 và quãng 5.Các quãng năm song song ở giũa bè teno và anto ít được nhận thấy.đặc biệt trong các nối tiếp với hợp âm 7 va hợp âm 6 4.trong bài tập các quãng 5 song song như vậy được cho phép sử dụng
    Thí Dụ:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Riêng bè giai điệu và bè bass tiến hành cùng hướng.đến quãng 8 hoặc quãng 5 chỉ được phép khi bè giai điệu tiến hành bước lần và bước nhấy xuống.
    Thí Dụ:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Chuyển động của quãng 5-(năm giảm) sang quãng 5 đúng ko được dùng ở bè ngoài cùng.Nó được dùng ở 2 bè kế tiếp nhau.
    Thí Dụ:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Hòa thanh 4 bè gồm sáu cặp hai bè vì vậy thường bao giờ cũng phải dùng hỗn hợp các lối tiến hành ở giũa các cặp bè.không có trường hợp dùng nguyên 1 lối tiến hành(trừ khi dùng 4 bè đi cùng 1 hướng.Lối tiến hành 4 bè đi cùng 1 hướng bao giờ cũng có hiệu quả ko tốt,cho nên bất đắc dĩ mới phải dùng)
    Ở 4 bè thường có các hình thức tổng hợp các chuyển động như sau:
    -Cùng hướng (hoặc song song)kết hợp với chếch hướng
    -Cùng hướng (hoặc song song )kết hợp với ngược hướng
    -Cùng hướng kết hợp với chếch hướng và ngược hướng
    Thí Dụ:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]


  4. #4
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần
    II-Kết Hợp Các Hợp Âm 5 Chính Gốc
    1-Mối tương quan giữa các hợp âm
    Các hợp âm năm của 1 điệu thức đều có tương quan nhất định với nhau.Mối quan hệ về quãng giũa các hợp âm 5 được xác định bằng khoảng cách giữa các âm gốc của nó.
    a, Tương quan quãng 2:hai hợp âm cách nhau 1 quãng 2.giũa chúng ko có âm chung
    Thí dụ:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    b,Tương quan quãng 4 và quãng 5:hai hợp âm đứng cách nhau 1 quãng4,hoặc quãng 5 có 1 âm chung
    Thí Dụ:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Như vậy những hợp 5 âm chính của điệu thức nàm trong tuơng quan quãng 4 và quãng 5 T-S, D-T… và tương quan quãng 2 S-D
    c,Tương quan quãng3:hia hợp âm đứng cách nhau 1 quãng3 có 2 âm chung
    Thí Dụ:

    2-Cách nối tiếp hợp âm năm chính:
    Có 2 phương pháp nối tiếp các hợp âm 5 chính:nối tiếp hòa thanh và nối tiếp giai điệu
    a,Nối tiếp hòa thanh:
    -cách nối tiếp này dùng cho những hợp âm có âm chung với nhau theo nguyên tắc sau:
    +Bè bass đi lên hay đi xuống 1 quãng 5 hay quãng 4
    +Âm chung giữ nguyên ở cùng bè
    +Hai bè còn lại tiến hành song song liền bậc theo các quãng3 hoặc quãng 6(tiến hành đi lên từ T sang S hoặc đi xuống tù T sang D)
    Vị trí sắp xếp ko thay đổi tromng quá trình nối tiếp.Hợp âm đầu sắp xếp rộng hợp âm sau cũng thành xếp rộng và nếu hợp âm đầu sếp hẹp thì hợp âm sau cũng thành hẹp.
    Thí Dụ:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    b,Nối tiếp giai điệu:
    Cách nối tiếp này dùng cho cả các hợp âm có âm chung và hợp âm ko có âm chung.Cách nối tiếp này dùng cho cả các hợp âm có quan hệ qãng 4 quãng 5 hoặc quan hệ quãng 2 theo nguyên tắc sau.
    +Bè bass không đi quá 1 quãng4
    +Ba bè trên tiến hành bình ổn ngược hướng vói bè bass(đây còn gọi la cách viết hinh đuôi cá)
    Ở trương hợp này vị trí sắp sếp hợp âm cũng ko thay đổi
    Thí Dụ:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Đôi khi trong nối tiếp giai điệu ta cũng gặp trương hợp bè bass đi quãng 5.còn các bè kia tiến hanh bình ổn cùng hướng với bè bass.cách này rất ít dùng người ta chỉ sử dụng nó trong trương hợp thát cần thiết,vì 4 bè đi cùng hướng đều ko nên dùng.
    PHỐI HÒA THANH CHO GIAI ĐIỆU BẰNG CÁC HỢP ÂM NĂM CHÍNH
    Phối hòa thanh cho giai điệu là sự kết hợp giai điệu đó với những hợp âm nối tiếp nhau 1 cách chặt chẽ và hợp lỵ
    Khi bắt đầu phối hòa thanh cho 1 giai điệu trược hết ta phải phân tích kỹ về các mặt rồi mới tiến hành theo từng bước sau:
    1/ Xác định điệu thức của giai điệu
    2/ Mỗi âm thanh của giai điệu phải được xác định về mặt chức năng là âm1, âm3 hay âm 5 của các hợp âm T,S,D. Nếu 1 âm có thể ở cả hai hợp âm thì ta phải xét đến cách tiến hành hòa thanh của cả hợp âm đứng trước lẫn hợp âm đứng sau nó.Điều này giúp ta tránh được các lỗi kết hợp và nối tiếp ko đúng đắn.
    3/ Bắ đầu giai điệu ở phách mạnh cần phải phối hòa âm bằng hợp âm chủ.Nhịp lấy đà thường được phối bằng hợp âm át. Rất ít khi giai điệu được bắt đầu bằng hợp âm hạ át. Giai điệu phải luôn luôn kết thúc bằng hợp âm chủ
    4/ Các hợp âm có quan hệ quãng 4 và quãng 5 có thể sử dụng trong bất kỳ sự nối tiếp nào
    Trong quan hệ quãng hai, hợp âm hạ át cânf phải đứng trước hợp âm át(S-D) và ko được nối tiếp ngược lại(D-S)
    5/ Không nên nhắc lại hợp âm đã dùng ở phách yếu nhịp trước sang phách mạnh nhịp sau. Trong nhịp kếp hay từng phần của phách thuộc nhịp đơn, phách tương đối mạnh cũng ko nên nhắc lại hợp âm của phách yếu trước nó.
    Thí Dụ:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Nếu hợp âm phách ở phách mạnh nó có thể kéo dài trường độ ra ngoài giới hạn của nhịp
    Thí Dụ:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    6/ Chú ý theo dõi tuyên giai điệu của bè bass. Âm vực của bè Bass cho phép rộng đến 2 quãng 8. Phải tạo cho bè bass có tuyến giai điệu theo hình lượn sóng, muốn vậy cần phải tiến hành xen kẽ giữa chuyên động đi lên và đi xuống. Không được thực hiện hai bược nhấy cùng chiều liền nhau theo quãng 4 hoặc quãng 5.
    Thí Dụ:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Khi nhắc lại hợp âm,bè bass có thể sử dụng trước bước nhẩy quãng 8 đi lên hoặc đi xuống.
    Thí Dụ:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    7/ Trong thời gian đầu học tập viêc phối hòa thanh cho giai điẹu chỉ sử dụng các hợp âm hoặc là toàn trong vị trí sắp xếp hẹp hoặc rộng. Như vậy cách xêp rộng hẹp phải được xac định trước bằng cách sắp xếp của hợp âm chủ đầu tiên
    Giai điệu ở âm vực thấp cần thiết phải sử dụng cách sắ xếp hẹp và ngược lại nếu cao thì sắp xếp rộng
    8/ Để thánh sự đều đều đối với các âm được nhắ lại hoặc kéo dài ở giai điệu,cần phải phối hòa thanh bằng các hợp âm của các bậc khác nhau,nếu có thể được.
    Hướng dẫn thực hành
    Thí Dụ:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Các bạn hãy làm theo các Bước minh đã bảo ở tên bài tập này nha.
    1/ Xác đinh giọng của bài trên bài này được viết ở giọng Rê trưởng.
    2/ Xác định 3 hơp âm chính
    -Rê Trưởng (T)
    -Son trưởng(S)
    -La Trưởng (D)
    3/ Lập sơ đồ dự kiến các hợp âm đặt cho giai điệu bằng các ký hiệu chức nagw của chúng. Trong cách đặt hợp âm này, ta xét từng nốt của giai điệu xem nó thuộc về hợp âm nào để lựa chọn.
    Nói chung là như vậy, nhưng ta còn phải tùy theo những điều kiện cụ thể của từng trường hợp để mà giải quyết định việc chọn hợp âm cho hợp lý.
    Với câu nhạc thí dụ trên ta cần phải phân tích các nốt các ô nhịp cách tiến hành bè của câu trươc câu sau sao cho họp lý để đặt bè cho đúng.sau khi phân tích cụ thê ta có có sơ đồ sau.
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Tiến hành viết bè
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    VÍ dụ
    Phối hòa thanh cho giai điệu sau:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    1/- Sau khi xem hóa biểu của giai điệu và nghe giai điệu trên đàn, xác định điệu thức của giai điệu,ta xác đinh đuwocj đoạn nhạc này được viết ở giọng pha thăng thứ(F#m)
    2/- Âm pha đầu tiên có thể là âm của 1 âm chủ hoặc âm năm của hợp âm hạ át.Như đã biết hợp âm đầu tiên của giai điệu thường là âm chủ(T),vậy có thể xác định âm pha này là âm 1 của hợp âm chủ
    Tiếp theo âm mi thăng,âm này chỉ có thể là âm 3 của hợp âm át(D)
    Sau âm mi thăng là âm pha.tương tự trường hợp trên.ở đây cũng chỉ có thể coi là âm 1 của hợp âm chủ vì nếu là âm 5 của hợp âm hạ át (S) thì hợp âm đứng tiếp là hợp âm át nên vì thế nó sẽ hình thành sự nối tiếp ngược chức năng (D-S)
    Tiếp lại là âm pha ta nên thay đổi phần hòa âm cho phông phú vì giai điệu âm pha ko thay đổi.

    Đến nhịp thứ 3 âm la chỉ có thể là âm bậc3 của hợp âm chủ.âm xi là âm 1 của hợp âm hạ át. Âm son là âm năm của hợp âm át, âm pha là âm 1 của âm chủ vì lý do:
    -Không thể là âm 5 của hợp âm hạ át vì hợp âm đứng trước nó là hợp âm át.
    -Kết thúc bài phải ở hợp âm chủ ổn định
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    3/- Do giai điệu ở âm vực tương đối thấp nên ta có thể dùng cách sắp sếp hẹp từ đầu tới cuối bài.
    4/- Sau khi viết đầy đủ bốn bè của hợp âm chủ đầu tiên,ta lần lượt nối tiếp các hợp âm sau.

    Từ hợp âm chủ mở đàu với hợp âm át tiếp sau nối tiếp kiểu hòa thanh vì ở trường hợp này chỉ có nối tiếp hòa thanh mới đảm bảo đúng nguyên tắc tiến hành các bè.Cũng làm như vậy khi nối tiếp tư hợp âm át sang hợp âm chủ
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Tiến hành từ hợp âm chủ sang hợp âm át cũng theo kiể hòa thanh vì ở giai điệu nốt pha đứng yên.
    Từ hợp âm hạ át tiếp sang họp âm chủ chỉ có thể nối tiếp kiểu giai điệu âm chung ko ở cùng 1 bè.
    Từ hợp âm hạ ât sang hợp âm át, đây l à 2 hợp âm có quan hệ quãng hai nên chỉ có thể nối tiếp kiểu giai điệu mà thôi.
    Cuối cùn từ hợp âm át sang chủ,trường hợp này có hai cách giải quyết.
    - Vì giai điệu đi xuống quãng 2,để hợp âm chủ đủ nốt bắt buộc phải nối tiếp kiểu giai điệu
    -Trường hợp để âm dẫn (mi thăng)hút lên chủ âm thì sẽ thiếu âm(hoặc là âm 5 hoặc là âm 3)
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]

  5. 26 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới NhatMinh cho bài viết hữu ích này:


  6. #5
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần

    Phối hoà thanh cho bè bátxơ

    Phối hoà thanh cho bè bátxơ bằng các hợp âm năm chính sẽ không có gì khó khăn trong việc chọn hợp âm. Nếu bè bátxơ là bậc một của điệu thức thì đó là hợp âm chủ (T), bậc bốn là hợp âm hạ át (S) và bậc năm là hợp âm át (D).
    Điều quan trọng trong việc phối hoà thanh cho bè bátxơ là làm sao xây dựng được phần giai điệu cho uyển chuyển, sinh động. Muốn đạt được điều đó ta phải chú ý đến những điểm sau:
    1. Không nên chỉ dùng lối nối tiếp hoà thanh đối với các hợp âm có nốt chung mà phải xen kẽ giữa kiểu nối tiếp hoà thanh với giai điệu.
    2. Một phương pháp khác nhằm làm cho giai điệu thêm phong phú là áp dụng sự thay đổi vị trí các âm của hợp âm. Điều này có thể thực hiện được khi bè trầm nhắc lại, ngân dài hoặc nhẩy quãng tám. Tuy nhiên cũng không nên lạm dụng sự thay đổi vị trí các âm nhiều quá nhằm tránh cho hoà thanh trở nên rườm rà, hỗn độn.
    Cần phải chú ý đến nhịp điệu của hoà thanh, ở những phách mạnh tránh dùng những trường độ ngắn hơn ở phách yếu.
    3. Để tránh những sai sót trong khi tiến hành bè, cần lưu ý một số điểm như sau: bè bátxơ đi quãng bốn thì có thể nối tiếp hợp âm theo kiểu hoà thanh hay giai điệu. Nếu bè bátxơ đi quãng năm thì chỉ có thể nối tiếp theo kiểu hoà thanh mà thôi.
    4. Cần chú ý đến sự chuyển động của giai điệu để có thể tạo ra lượn sóng. Muốn vậy nên xen kẽ các chuyển động bước lần và bước nhảy.
    Khi xây dựng giai điệu nên cố gắng tạo ra các cao trào, nếu có âm dẫn nên đặt nó ở bè giai điệu để khi tiến hành từ hợp âm át sang hợp âm chủ sẽ áp dụng được cách nối tiếp hoà thanh.
    5. Trong đoạn nhạc nên tạo ra những chỗ ngưng nghỉ. Ở đoạn nhạc gồm tám nhịp nên ngắt ở nhịp thứ tư bằng hợp âm át và nhịp cuối cùng bằng hợp âm chủ (T).
    Để kết thúc đoạn nhạc có thể dùng hợp âm chủ không đầy đủ (bỏ âm năm và tăng ba âm một). Để làm được điều này, âm dẫn ở một trong hai bè giữa phải đi lên liền bậc.

    bước nhẩy âm ba khi nối tiếp các hợp âm năm chính
    I. Khái niệm chung.
    Như đã trình bày ở những bài trước, các hợp âm năm chính T-S-D của điệu thức có thể kết hợp với nhau theo kiểu hoà thanh hay giai điệu. Điều cơ bản trong hai cách nối tiếp trên là sự bình ổn ở các bè. Khi có xuất hiện những bước nhẩy quãng bốn, năm và sáu theo hướng đi lên hoặc đi xuống dẫn đến sự thay đổi vị trí các âm của một hợp âm. Đó là một thủ pháp để tạo ra những giai điệu phong phú, uyển chuyển, có sức biểu hiện trong việc phối hoà thanh cho bè bátxơ. Ngoài ra các bước nhẩy quãng bốn, năm đã giúp cho việc thay đổi vị trí sắp xếp của hợp âm (từ sắp xếp rộng thành hẹp hay ngược lại).
    Cùng với các bước nhẩy của sự thay đổi vị trí âm của cùng một hợp âm ta còn có thể sử dụng các bước nhẩy quãng bốn, quãng năm ở bè giai điệu cũng như bè têno giữa các hợp âm năm khác nhau. Những bước nhẩy này sẽ làm cho sự thay đổi cách sắp xếp của hợp âm thêm linh hoạt.
    Trong cách nối tiếp hoà thanh giữa các hợp âm có quan hệ quãng bốn, quãng năm như: T-S; T-D; S-T; D-T âm ba của hợp âm này có thể nhẩy sang âm ba của hợp âm kia, bước nhẩy này gọi là bước nhẩy âm ba.
    Bước nhẩy âm ba chỉ được sử dụng ở bè giai điệu và bè têno. Khi có bước nhẩy sẽ kéo theo sự thay đổi cách sắp xếp hợp âm.
    II. Bước nhẩy âm ba ở bè giai điệu (sôpranô)
    Khi nối tiếp hai hợp âm năm theo kiểu hoà thanh, âm ba hợp âm này nhẩy đến âm ba của hợp âm kia theo quãng bốn hoặc quãng năm, nhẩy đi lên hay đi xuống, ở bè giai điệu. Các bè khác tiến hành bình ổn, khi có bước nhẩy lên thì hợp âm từ vị trí sắp xếp hẹp thành rộng và ngược lại nhẩy xuống thì hợp âm từ sắp xếp rộng thành sắp xếp hẹp.
    III. Bước nhẩy âm ba ở bè têno.
    Ở bè têno cũng có những bước nhẩy âm ba tương tự như ở bè giai điệu. Những bước nhẩy này cũng kéo theo sự thay đổi cách sắp xếp của hợp âm. Tuy nhiên có ngược lại với các bước nhẩy ở bè giai điệu.
    - Bước nhẩy đi lên kèm theo hợp âm từ xếp rộng thành xếp hẹp.
    - Bước nhẩy đi xuống kèm theo hợp âm xếp hẹp thành xếp rộng.
    IV. Cách tiến hành bè.
    Khi có những bước nhẩy âm ba ở bè giai điệu hay bè têno thì các bè cần tiến hành theo những bước như sau:
    - Bè bátxơ của hai hợp âm có thể tiến hành bước quãng bốn hay quãng năm, đi lên hay đi xuống..
    - Xác định bước nhẩy âm ba ở bè giai điệu hay bè têno.
    - Âm chung của hai hợp âm để cùng một bè.
    - Âm còn lại tiến hành bình ổn vào âm còn lại của hợp âm kia.
    Chú ý: không nên sử dụng bước nhẩy âm ba ở bè antô vì nó đưa đến cách sắp xếp hợp âm năm không đúng và sự tiến hành bè không đúng quy cách.

  7. 21 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới NhatMinh cho bài viết hữu ích này:


  8. #6
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần

    Phần II âm ngoài hợp âm

    I. Khái niệm chung.
    Trong âm nhạc chủ điệu, người ta thường phân biệt giai điệu và các phần các hợp âm phụ hoạ theo gọi là phần đệm. Mỗi âm một giai điệu đều có thể là âm thuộc hợp âm mà cũng có thể là âm ngoài hợp âm thuỳ theo quan hệ của âm đó với hợp âm cùng vang lên một lúc với nó. Các âm thuộc hợp âm là âm gốc, âm ba, âm năm, âm bảy, âm chín…của hợp âm cùng vang lên một lúc. Trái lại âm ngoài hợp âm là bất kỳ của một âm nào khác không thuộc thành phần của hợp âm.
    Trong thực tế có những tác phẩm, có đoạn nhạc, giai điệu hoàn toàn là âm trong hợp âm nhưng thông thường nhất là các giai điệu được trình bày bằng cách xen lẫn những âm ngoài hợp âm với các âm thuộc hợp âm.
    II. Các dạng của âm ngoài hợp âm.
    Các âm ngoài của hợp âm còn gọi tắt là âm ngoại có những hình thức chính như sau:
    1. Âm muộn.
    Âm muộn còn gọi là âm lưu, nó là âm ngoài hợp âm ở phách mạnh hoặc tương đối mạnh. Âm muộn có từ hợp âm trước kéo dài sang hợp âm sau. Nó đẩy âm của hợp âm sau sang phách yếu hơn liền bậc ngay sau nó.
    Sự hình thành của hợp âm muộn có ba giai đoạn:
    - Chuẩn bị.
    - Âm muộn.
    - Giải quyết.
    a. Chuẩn bị: Trong hợp âm trước có một âm sẽ là âm ngoại của hợp âm sau.
    b. Âm muộn: Sự xuất hiện của âm đó với tính chất là một ngoài hợp âm sau cùng vang lên với nó.
    c. Giải quyết: Sự di chuyển từ âm muộn đó đến âm của hợp âm, thường là liền bậc đi xuống cũng có trường hợp ngoại lệ là giải quyết đi lên một quãng hai thứ đôi khi là quãng hai trưởng.
    2. Âm lướt.

    Là âm ngoài hợp âm đứng ở phách yếu giữa hai âm của hợp âm. Nó nối liền bậc đi lên hoặc đi xuống giữa hai âm đó. Hai âm có âm lướt ở giữa có thể thuộc cùng một hợp âm hay ở hai hợp âm khác nhau. Âm lướt thường có trường độ ngắn hơn hay bằng âm chính đứng trước nó. Có rất nhiều trường hợp âm lướt có trường độ dài hơn âm chính, tuy nhiên nó vẫn phải ở phách yếu hoặc phần yếu của phách.
    3. Âm thêu.
    Là âm ngoài hợp âm ở phách yếu đứng giữa hai âm cùng tên của hợp âm và cách chúng một quãng hai. Hai âm cùng tên này có thể ở cùng một hợp âm hay ở hai hợp âm khác nhau.
    Âm thêu bao giờ cũng đứng ở phách tương đối mạnh hoặc phách yếu. Ngoài ra chúng ta còn gặp những trường hợp âm thêu nửa cung.
    4. Âm sớm.
    Là âm của hợp âm sau nhưng lại xuất hiện ở thời gian yếu của hợp âm trước.
    5. Âm thoát.
    Là một hình thức âm thêu ở trên mà giải quyết xuống một quãng ba.
    đoạn nhạc- câu nhạc- kết
    Tác phẩm âm nhạc được biểu hiện theo thời gian. Sự tiến triển của tác phẩm âm nhạc là một quá trình liên tục, nó thống nhất tư tưởng và hoàn chỉnh về hình thức. Đồng thời quá trình đó lại phân chia ra những giai đoạn riêng biệt gọi là cơ cấu. Các cơ cấu được phân biệt bởi các chỗ ngắt. Chỗ ngắt là giây phút tách cuối cơ cấu này với đầu cơ cấu khác mà không lệ thuộc vào quy mô của chúng. Các cơ cấu có thể khác nhau về quy mô và chức năng. Ví dụ có cơ cấu chứa đựng sự trình bảy của chủ đề, cơ cấu khác lại chứa đựng sự phát triển của chủ đề đó hay trình bày chủ đề mới…Chúng hợp lại thành toàn bộ hình thức âm nhạc.

  9. 20 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới NhatMinh cho bài viết hữu ích này:


  10. #7
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần

    Đoạn nhạc và câu nhạc.

    I. Đoạn nhạc và câu nhạc.
    Ý nghĩa chính của một tác phẩm âm nhạc được biểu hiện bằng phương tiện âm nhạc gọi là chủ đề. Trong chủ đề chứa đựng những nét chính của hình ảnh tác phẩm nghệ thuật. Trong âm nhạc chủ điệu, chủ đề thường trình bày ở dạng một đoạn nhạc. Đoạn nhạc là một cơ cấu âm nhạc đơn giản hoàn chỉnh nhất. Nó biểu hiện một chủ đề, một tư tưởng âm nhạc, đoạn nhạc thường được kết thúc bằng một kết hoàn chỉnh.
    Thông thường đoạn nhạc gồm có hai cơ cấu có cấu trúc độc lập và được phân chia bởi chỗ kết. Những cơ cấu này gọi là câu nhạc. Câu nhạc thường gồm có từ 4 đến 8 nhịp.
    Trong âm nhạc cổ điển rất phổi biến loại đoạn nhạc gồm hai câu dài bằng nhau (gồm 4 hoặc 8 nhịp) gọi là đoạn nhạc cân phương. Đoạn nhạc đó có 8 nhịp (4+4) hoặc 16 nhịp (8+8).
    Ngoài đoạn nhạc hai câu cân phương ta còn gặp những đoạn nhạc hai câu không bằng nhau (4+6) hoặc hai câu bằng nhau nhưng không vuông (6+6) hay đoạn nhạc có thêm câu bổ sung (4+4+4). Đôi khi có những đoạn nhạc có quy mô lớn (gồm 20, 24 hoặc 32 nhịp). Ngược lại có loại đoạn nhạc đơn giản chỉ có một cơ cấu duy nhất không chia thành câu.
    II. Kết trong đoạn nhạc.
    Kết là một vòng hoà thanh có cơ cấu âm nhạc riêng biệt dùng để kết thúc sự trình bày một tư tưởng âm nhạc hay một bộ phận độc lập của nó. Các kết phân biệt theo vị trí của nó trong đoạn nhạc. Câu thứ nhất trong đoạn nhạc thường kết thúc bằng kết nửa. Câu thứ hai thường được kết thúc bằng kết trọn (hợp âm chủ).
    Đôi khi còn có kết bổ sung, nó xuất hiện sau khi đã kết thúc đoạn nhạc.
    Thông thường người ta phân biệt kết đoạn nhạc với kết nửa theo đặc tính chức năng của hợp âm cuối cùng.
    Kết nửa không ổn định thường dừng lại ở hợp âm D (đôi khi ở S), còn kết đoạn ổn định dừng lại ở hợp âm chủ (T). Điều này đã tạo nên sức hút trên khoảng cách từ D (hoặc S) đến T gây nên sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hai câu và như vậy nó góp phần hợp nhất cả hai câu thành một cơ cấu âm nhạc trọn vẹn.
    III. Các hình thức chủ yếu của kết.
    Về phương diện hoà thanh, các kết được chia ra làm hai nhóm chức năng chủ yếu:
    - Kết ở hợp âm ổn định T
    - Kết ở hợp âm không ổn định : D hoặc S
    1. Kết ổn định.
    Kết ở hợp âm ổn định thường có ba dạng sau:
    - Kết chính cách.
    - Kết biến cách.
    - Kết đầy đủ (một dạng đặc biệt của kết chính cách)
    a. Kết chính cách là cuối câu hay cuối đoạn có vòng hoà thanh D- T. Loại kết này phổ biến nhất trong âm nhạc của nhiều trường phái, nhiều thời đại.
    b. Kết biến cách là cuối câu hay cuối đoạn có vòng hoà thanh S- T
    Kết biến cách ít gặp hơn kết chính cách, đầu tiên chúng xuất hiện như những vòng kết bổ sung cho đoạn nhạc chứ không phải là vòng hoà thanh độc lập. Sau âm nhạc chủ nghĩa cổ điển phương Tây, đặc biệt là âm nhạc phương Đông và âm nhạc Nga thì kết biến cách có giá trị thẩm mỹ và mang tính độc lập lớn hơn.
    c. Kết đầy đủ là cuối câu hau cuối đoạn nhạc có vòng hoà thanh bao gồm cả hai chức năng không ổn định: S- D- T. Thực tế đây cũng là một loại kết chính cách.
    2. Kết không ổn định.
    Kết ở những hợp âm không ổn định được dùng ở kết nửa.
    Kết nửa cũng có hai dạng khác nhau:
    - Kết nửa chính cách.
    - Kểt nửa biến cách.
    a. Kết nửa chính cách: kết thúc câu một ở hợp âm D
    b. Kết nửa biến cách: kết thúc câu một ở hợp âm S
    Kết nửa chính cách chiếm ưu thế hơn kết nửa biến cách vì nó có quan hệ tự nhiên với vai trò và các đặc điểm của hợp âm át.
    3. Kết biến cách bổ sung.
    Kết biến cách bổ sung cũng là một dạng kết ổn định. Nó là vòng hoà thanh S- T được đưa vào sau kết chính cách của một đoạn nhạc. Kết này nhằm mở rộng quy mô của đoạn nhạc hoặc củng cố điệu thức cho đầy đủ hơn.
    Kết biến cách bổ sung làm dịu đi sự quyết liệt, mạnh mẽ của vòng hoà thanh trước.
    Sơ đồ cấu tạo đoạn nhạc có kết biến cách bổ sung:
    câu một câu hai câu biến cách bổ sung
    (4 nhịp) + (4 nhịp) + (2 nhịp)
    Nếu kết chính cách được thực hiện sớm hơn kết thúc của một đoạn nhạc cân phương thì kết biến cách bổ sung sẽ làm đoạn nhạc kéo dài cho đủ 8 nhịp.
    4. Kết hoàn chỉnh và không hoàn chỉnh.
    Ở các kết ổn định tuỳ theo mức độ của kết mà người ta phân chia ra là hoàn chỉnh và không hoàn chỉnh.
    a. Kết hoàn chỉnh: Là loại kết mà trong đó hợp âm chủ cuối cùng nằm ở phách mạnh của nhịp, vị trí giai điệu là âm gốc. Hợp âm D hay S đứng trước nó phải là hợp âm nguyên vị. Ở bè bátxơ cần duy trì những bước tiến quãng bốn hay quãng năm.
    D- T và S- T
    b. Kết không hoàn chỉnh: Là loại kết mà hợp âm chủ nằmm ở phách yếu hoặc vị trí giai điệu là âm ba hoặc âm năm. Hay hợp âm D hoặc S đứng trước nó là hợp âm đảo.
    Kết hoàn chỉnh và không hoàn chỉnh trong những điều kiện như nhau thì kết hoàn chỉnh có mức độ ổn định lớn hơn và thường được dùng để kết cuối đoạn nhạc

  11. 20 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới NhatMinh cho bài viết hữu ích này:


  12. #8
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần

    Hợp âm kết sáu bốn

    Hợp âm kết sáu bốn
    I. Định nghĩa và ký hiệu
    Trong các vòng kết, hợp âm át thường đứng sau một hợp âm trông bề ngoài giống như hợp âm chủ đảo hai, tăng đôi âm bátxơ. Căn cứ vào vị trí của nó trong cơ cấu câu nhạc và các quãng cấu tạo hợp âm, hợp âm này được gọi là hợp âm kết sáu bốn. Ký hiệu: K64
    Tuy bề ngoài hợp âm K64 giống như hợp âm chủ đảo hai nhưng do bản chất chức năng hợp âm K64 không thuộc về chức năng chủ.
    Hợp âm K64 có đặc tính chức năng như sau:
    Hợp âm này là sự kết hợp nhiều chức năng, trong đó chức năng chủ là tổng hợp các bè trên được dựa vào chức năng át là bè bátxơ. Chức năng át là nền tảng của hợp âm và chiểm ưu thế hơn.
    Trong một hợp âm có nhân tố của cả hai chức năng người ta gọi là hợp âm có chức năng kép.
    Tính chức năng kép đó là cho hợp âm K64 vừa có tính chất căng thẳng vừa không ổn định, là tính chất không có trong chức năng chủ ổn định.
    Việc xuất hiện hợp âm K64 làm chậm lại sự xuất hiện của hợp âm D ở kết cho nên hợp âm K64 nhất thiết phải tiến vào hợp âm D và coi như hợp âm giải quyết.
    II. Cách tiến hành bè.
    Hợp âm K64 được sử dụng trong những điều kiện nhất định về nhịp phách:
    - Ở những nhịp đơn nó thường đứng ở phách mạnh.
    - Ở những nhịp phức tạp nó thường đứng ở phách mạnh hoặc tương đối mạnh.
    Đôi khi hợp âm K64 có thể đứng ở phách yếu những hợp âm D đứng sau nó bao giờ cũng nằm ở phách yếu hơn.
    Khi giải quyết K64 vào D thường theo cách sau:
    Âm bè trầm và âm tăng đôi của nó đứng yên tại chỗ. Hai âm còn lại tiến bước lần theo chiều đi xuống đến hai âm còn lại của hợp âm D. Lối giải quyết theo kiểu bước lần mềm mại này là điều bắt buộc ở kết nửa.
    Trong kết đoạn, ngoài cách giải quyết theo bước lần khi giải quyết K64 về D còn dùng bước nhẩy đến âm ba hoặc âm năm của hợp âm D (có thể nhẩy lên hoặc nhẩy xuống) để tạo nên kết hoàn chỉnh.
    Trong khi giải quyết bè trầm có thể đứng yên hoặc nhẩy quãng tám (thường là nhẩy xuống)
    III. Sự chuẩn bị của hợp âm K64
    Thông thường, hợp âm K64 được chuẩn bị bằng hợp âm hạ át (S). Hợp âm S có âm chung với hợp âm K64 vì vậy thông thường được nối tiếp theo kiểu hoà thanh . Do đó âm nghịch của K64 được chuẩn bị trước.
    Tuy vậy trong các kết cũng thường gặp trường hợp đứng trước K64 không phải là hợp âm hạ át mà là hợp âm chủ. Vòng hoà thanh này chủ yếu dùng trong kết nửa, ở một chừng mực nào đó cũng có thể dùng trong kết hẳn.
    IV. Thay đổi vị trí âm.
    Cũng như các hợp âm khác, hợp âm K64 thường có sự thay đổi vị trí âm. Lúc đó bè trầm có thể đứng yên hay nhảy quãng tám, các bè khác thay đổi vị trí do đó cách sắp xếp của hợp âm cũng thay đổi theo. Ở các phách yếu của nhịp có thể tạo ra những hợp âm không đầy đủ nốt.
    Hợp âm kết sáu bốn là một hợp âm có chức năng không ổn định, nó đưa vào các kết những âm vang mới và thêm vào đó sự căng thẳng kịch tính. Trong các kết đoạn, K64 làm trì hoãn việc tiến vào hợp âm chủ, do đó càng làm tăng thêm sức hút và trạng thái căng thẳng vào hợp âm chủ ở chỗ kết.
    Do trạng thái căng thẳng của K64 ở kết nửa, nó đã tăng thêm sự ổn định tạm thời của hợp âm át là hợp âm giải quyết của nó. Vì vậy trong các tác phẩm hợp âm K64 là hợp âm được dùng nhiều ở những chỗ kết.

  13. 22 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới NhatMinh cho bài viết hữu ích này:


  14. #9
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần

    Phần III các hợp âm năm chính đảo một (T 6, S 6, D 6)


    I. Định nghĩa và ký hiệu.

    Các hợp âm năm chính nếu đảo âm gốc lên trên và bè bátxơ là âm ba của hợp âm ta sẽ có thể đảo một và gọi là hợp âm sáu. Người ta dùng ký hiệu số 6 ở cạnh các chữ ghi chức năng của hợp âm.
    Vd: T6, S6, D6
    Do âm ba nằm ở bè trầm nên âm hưởng của các hợp âm sáu có phần nào không ổn định bằng các hợp âm năm. Việc bổ sung các hợp âm sáu vào hệ thống các hợp âm sẵn có sẽ tăng cường màu sắc cho hoà thanh. Ngoài ra nó còn làm cho bè bátxơ phong phú thêm, đặc biệt là dễ tránh những lỗi quãng năm, quãng tám song song. Do tính chất ít ổn định nên các hợp âm sáu thường dùng ở giữa bài mà ít dùng ở kết, nhất là kết đoạn nhạc. Nếu hợp âm sáu đứng trước hợp âm kết thúc thì nó sẽ biến kết hoàn chỉnh thành kết không hoàn chỉnh.
    II. Tăng đôi âm và cách sắp xếp.
    a. Tăng đôi âm.
    Các hợp âm sáu được tăng đôi âm một hoặc âm năm, không tăng đôi âm ba (chỉ áp dụng trong những điều kiện đặc biệt).
    Các hợp âm sáu được tăng đôi âm ba khi đứng ơqr phách yếu ngay sau hợp âm năm cùng chức năng, hoặc hợp âm sáu thay đổi vị trí âm (phải chủ ý đến nối tiếp sang hợp âm sau, tránh các quãng tám song song).
    b. Cách sắp xếp.
    Các hợp âm sáu không những có thể sắp xếp hẹp hoặc rộng mà còn có thể sắp xếp theo kiểu hỗn hợp. Thường thường cách sắp xếp hỗn hợp được sử dụng nhiều hơn.
    c. Thay đổi vị trí âm
    Sự nối tiếp một hợp âm năm với một hợp âm sáu cùng chức năng hay ngược lại (T- T6; S6- S…) sẽ tạo thành một dạng gián tiếp của cách thay đổi vị trí âm của hợp âm.
    Các hợp âm sáu độc lập cũng có thể thay đổi vị trí âm bằng cách thay đổi vị trí giai điệu, cách sắp xếp hoặc tăng đôi âm. Thông thường nó có thể nhẩy ở một bè hay hai bè, nếu cả ba bè cùng nhẩy sẽ xảy ra lỗi quãng tám song song.
    III. Cách nối tiếp các hợp âm sáu với hợp âm năm khác chức năng và ngược lại.
    1. Nối tiếp các hợp âm sáu với hợp âm năm có quan hệ quãng bốn, quãng năm.
    Do hợp âm sáu có nhiều cách sắp xếp nên khi nối tiếp với các hợp âm năm sẽ tạo ra nhiều khả năng phong phú.
    Ở quan hệ quãng bốn, quãng năm nếu nối tiếp theo kiểu hoà thanh thì các bè sẽ tiến hành bình ổn không có bước nhẩy.
    2. Nối tiếp hợp âm sáu với hợp âm năm có quan hệ quãng hai.
    a. Nối tiếp S6- D dù hợp âm S6 có tăng đôi âm một hay âm năm thì vẫn phải nối tiếp theo kiểu giai điệu, các bè tiến hành bình ổn.
    b. Nối tiếp S- D6 bè trầm không được nhẩy quãng bốn tăng đi lên mà phải đi xuống quãng năm giảm. Sau bước nhẩy đó, bè trầm phải đi lên ngược hướng với bước nhẩy. Để tránh ccác lỗi quãng năm, quãng tám song song khi tiến hành từ S đến D6 hợp âm S cần để âm năm ở vị trí giai điệu và hợp âm D6 tăng đôi âm năm. Ở một vài trường hợp khác có thể đảo quãng năm song song thành hai quãng bốn song song.
    Do có nhiều cách tăng đôi âm của hợp âm sáu nên khi tiến hanàh các bè dễ xảy ra các lỗi quãng tám và quãng năm song song hoặc ngược hướng. Lỗi nối tiếp như vậy sẽ làm giảm bớt tính độc lập của từng bè cho nên trong hoà thanh bốn bè không nên sử dụng (tránh nhầm lẫn với sự nhấn mạnh một bè do dụng ý của tác giả).

  15. 22 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới NhatMinh cho bài viết hữu ích này:


  16. #10
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần

    Các bước nhẩy khi nối tiếp hợp âm năm với hợp âm sáu

    I. Ý nghĩa của các bước nhẩy.
    Sự áp dụng bất kỳ một bước nhẩy nào (âm ba, âm một hay âm năm) đều mở ra nhiều khả năng phong phú cho phương thức tiến hành các bè. Nếu đem so sánh với những quy tắc nghiêm khắc ở các bài học ban đầu thì chúng ta nhận thấy rằng giai điệu hiện tạ phong phú hơn nhiều và đa dạng hơn nhiều, nó không những nhờ ở sự thay đổi vị trí các âm mà còn do những bước nhẩy khác nhau tạo nên. Tuy nhiên những bước nhẩy đó nên dùng xen kẽ trong sự tiến hành bình ổn của các bè và sau bước nhẩy cần thiết phải tiến hành theo chiều ngược lại với bước nhẩy.
    Trong nối tiếp hai hợp âm năm chính nguyên vị chỉ được phép nhẩy âm ba của hợp âm này sang âm ba của hợp âm kia ở bè giai điệu và bè tênô mà thôi. Còn những bước nhẩy âm một và âm năm đều không thực hiện được vì chúng sẽ tạo ra các lỗi quãng năm và quãng tám song song. Nếu trong hai hợp âm nối tiếp với nhau có ít nhất là một hợp âm đảo thì chúng ta có một bước nhẩy hợp lý và phong phú.
    II. Bước nhẩy của âm một và âm năm.
    Khi kết hợp một hợp âm năm với một hợp âm sáu (hay ngược lại) có tương quan quãng bốn, quãng năm như:
    T6- D, D- T6, D6- T, S6- T… có thể nhẩy âm một hợp âm này vào âm một của hợp âm kia hay âm năm hợp âm này vào âm năm hợp âm kia.
    Những bước nhẩy thường xảy ra ở bè giai điệu, các bè khác thường tiến hành bình ổn theo kiểu hoà thanh.
    Muốn có những bước nhẩy đi lên (âm một vào âm một hay âm năm vào âm năm) thì hợp âm đầu phải là hợp âm âm năm, hợp âm sau là hợp âm sáu, bè trầm nên đi ngược hướng với bước nhẩy.
    Muốn có những bước nhẩy đi xuống chúng ta cần lưu ý hai trường hợp sau:
    a. Hợp âm đầu là hợp âm năm xếp rộng còn hợp âm sau là hợp âm sáu, bè trầm đi xuống cùng với bước nhẩy.
    b. Hợp âm đầu là hợp âm sáu xếp theo kiểu hỗn hợp, hợp âm sau là hợp âm năm xếp hẹp, bè trầm đi ngược hướng bước nhẩy.
    Các bước nhẩy được sử dụng nhiều ở bè giai điệu, nhưng do yêu cầu của kỹ thuật tiến hành bè có thể sử dụng bước nhẩy ở các các bè giữa.
    Có thể nhẩy cả hai bè cùng một lúc: Âm một vào âm một và âm năm vào âm năm, lối tiến hành này gọi là nhẩy kép. Khi sử dụng lối nhẩy kép cần phải để âm một trên âm năm nhằm tránh lỗi quãng năm song song hay ngược hướng.
    III. Các bước nhẩy hỗn hợp.
    Ngoài các bước nhẩy trên, k hi nối tiếp một hợp âm năm với một hợp âm sáu khác chức năng có thể tạo ra một số bước nhẩy giữa các âm khác tên của những hợp âm đó bằng các quãng sáu, quãng năm đôi khi cả quãng bảy. Những bước nhẩy này được gọi là những bước nhẩy hỗn hợp.
    Việc sử dụng các thể đảo của các hợp âm sẽ góp phần làm cho những bước nhẩy tự nhiên và hợp lý. Khi nối tiếp chúng với hợp âm K64 cũng như hợp âm K64 sang D6 có thể sử dụng bước nhẩy.
    IV. Quãng tám và quãng năm ẩn.
    Khi các bè cùng hướng tiến vào quãng tám hoặc quãng năm gọi là quãng tám và quãng năm ẩn. Các bước tiến này đã nhấn mạnh thêm sự trống rỗng của quãng đó. Những quãng tám và quãng năm ẩn chỉ cấm khi xảy ra ở hai bè ngoài (bè giai điệu và bè bátxơ) khi có bước nhẩy ở bè giai điệu. Lỗi này chúng ta hay gặp khi nối tiếp các hợp âm năm với hợp âm sáu vì vậy cần phải chú ý đến cách sắp xếp và lối tiến hành bè cho hợp lý.

  17. 25 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới NhatMinh cho bài viết hữu ích này:


Trang 1 của 3 123 CuốiCuối

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •