Forum Home Your IP: 54.92.190.11

Trang 2 của 3 Đầu tiênĐầu tiên 123 CuốiCuối
Kết quả 11 đến 20 của 29

Chủ đề: Lý thuyết Hòa thanh Cổ Điển

  1. #1
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần

    Lý thuyết Hòa thanh Cổ Điển

    Mình Xin Gửi đến cả nhà lý thuyết hòa thanh bốn bè mong cả nhà ủng hộ mình nhé xin trân thành cảm ơn


  2. #11
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần

    phần V hệ thống chức năng của các hợp âm trong điệu trưởng tự nhiên và điệu thứ hoà t

    phần V
    hệ thống chức năng của các hợp âm trong điệu trưởng tự nhiên và điệu thứ hoà thanh

    1. Trong điệu trưởng tự nhiên.
    Các hợp âm phụ đứng trên hoặc dưới một quãng ba so với hợp âm chính lập thành nhóm chức năng lấy tên của hợp âm chính. Chúng gần gũi với chức năng của hợp âm chính vì có hai âm chung với hợp âm chính đó.
    Những hợp âm thuộc nhóm hạ át (II, IV, VI) bao giờ cũng có nốt bậc VI (la) của điệu thức. Ba hợp âm của nhóm át thì đều chứa âm dẫn bậc VII (si). Nói chung, chúng đều là các hợp âm không ổn định, chỉ có hợp âm chủ, xâu dựng trên bậc I của điệu thức mới là hợp âm ổn định mà thôi.
    Hai hợp âm mang chức năng kép (VI, III) đóng vai trò trung gian giữa chủ với hạ át (bậc VI) hoặc giữa át với chủ (bậc III) chỉ thể hiện rõ thiên hướng chức năng khi chúng đứng trong vòng hoà thanh nhất định:
    Hợp âm bậc VI đứng trước thiên về chức năng hạ át. Khi nó đứng sau hợp âm át thì thiên về chức năng chủ, còn nếu nó đứng giữa hợp âm chủ và hạ át thì chỉ đóng vai trò trung gian (tức là mang đủ hai chức năng T và S).
    Hợp âm bậc III thường hay thiên về chức năng át vì có âm dẫn của điệu thức nhưng khi đứng trước hợp âm hạ át thì đóng vai trò như hợp âm mang chức năng chủ.
    2. Trong điệu thứ hoà thanh.
    Đặc điểm của điệu thứ hoà thanh là âm bậc VII bị tăng lên nửa cung, do đó có một số khác biệt so với điệu thứ tự nhiên:
    Nếu hợp âm bậc III ở thứ tự nhiên thiên về chức năng chủ thì hợp âm này trong thứ hoà thanh mang rõ chức năng át. Đó là hợp âm nghịch (hợp âm tăng) có âm dẫn cách nửa .cung đòi hỏi hút về âm chủ .
    Trong điệu thứ tự nhiên cũng như trong điệu thứ hoà thanh hợp âm bậc VI thiên về chức năng hạ át hơn là chức năng chủ. Nó được coi là hợp âm hạ át của giọng trưởng song song.
    3. Logic của sự nối tiếp các hợp âm.
    Như ta đã biết, lối nối tiếp thông thường và hợp lý nhất là:
    T - S – D – T
    Công thức nối tiếp như trên không chỉ có giá trị với cac hợp âm chính (I, IV, V) mà có cả với các hợp âm của nhóm chức năng, do đó có thể thay thế các hợp âm chính bằng các hợp âm phụ.
    Điểm cần chú ý khi dùng thêm các hợp âm phụ là:
    - Trong chức năng chủ và chức năng hạ át, hợp âm phụ nên đứng sau hợp âm chính.
    Trong chức năng át thì ngược lại, hợp âm chính nên đứng sau hợp âm phụ. Do đó mà hình thành các vòng hoà thanh chính cách, biết cách và đầy đủ như sau:
    Chính cách:
    I V I
    I V7 I
    I VII7 I
    I III6 I

    I VII7 V7 I
    I III6 V7 I

    Biến cách:
    I IV I
    I VI I

    I VI IV I
    I VI IV II I

    Đầy đủ:
    I VI IV II VII7 III6 V7 I
    (VII6)

    Toàn bộ các hợp âm chính và phụ được xây dựng trên các âm của các điệu tính trưởng hoặc thứ tự nhiên, hoà thanh và giọng trưởng hợp thành hệ thống chức năng hợp âm, gọi tắt là hệ thống.

  3. 17 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới NhatMinh cho bài viết hữu ích này:


  4. #12
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần

    Hợp âm sáu bậc II (II6) và hợp âm gốc bậc II

    Hợp âm sáu bậc II (II6) và hợp âm gốc bậc II
    I. Hợp âm sáu bậc II (II6)
    Hợp âm II6 mang chức năng hạ át, được dùng nhiều nhất trong số các hợp âm phụ mà ta sẽ lần lượt đề cập trong các phần sau. Trong tác phẩm của cấc nhạc sũ thuộc trường phái cổ điển và lãng mạn, hợp âm này hay được dùng thay thế cho hợp âm hạ át chính bậc IV.
    Trong điệu trưởng, hợp âm bậc II là hợp âm thứ, trong điệu thứ và điệu trưởng hoà thanh nó là hợp âm giảm, dùng thay thế cho hợp âm bậc IV thì mầu sắc phong phú hơn.
    1. Tăng đôi âm trong hợp âm II6.
    II6 thường được tăng đôi âm trầm (tức âm ba của hợp âm này) để tăng cường chức năng hạ át của nó. Khi tăng đôi âm trầm, II6 được coi như hợp âm bậc IV thay âm 5 bằng âm 6 (gọi là hợp âm hạ át có 6 âm treo). Đôi khi II6 cũng có thể được tăng đôi âm 1 hoặc âm 5.
    2. Hợp âm II6 thường đứng sau hợp âm bậc I hoặc hợp âm bậc IV.
    a. Khi nối tiếp I- II6 thì bè trầm nhẩy quãng 4, ba bè trên ngược hướng với bè trầm. Ba bè trên có thể tiến cùng hướng với bè trầm khi tầng trên (tức ba bè trên: têno, antô, sôprano) của hợp âm bậc I chỉ có quãng 4, không có quãng 5.
    Nối tiếp I6 – II6, bốn bè đều bình ổn, chỉ cần chú ý tránh quãng 5 song song:
    Trong điệu thứ, II6 có quãng 5 giảm, được phép tiến song song từ qhãng 5 đúng sang quãng 5 giảm, do đó ba bè trên có thể tiến bình ổn lên hoặc xuống, nối tiếp khá tự do.
    b. Nối tiếp IV – II6 thường theo lối hoà âm (tức âm chung giữ nguyên) và nên đặt II6 ở phách yếu hơn so với IV.
    3. Nối tiếp II6 với hợp âm át và K64
    a. Nối tiếp II6 – V, khi II6 tăng đôi âm ba thì nối tiếp với V theo lối giai điệu, giống như nối từ IV sang V, bè trầm lên quãng hai, ba bè trên ngược hướng với bè trầm, nếu dùng bước nhảy có thể nối tiếp theo lối hợp âm.
    II6 có thể nối tiếp với V6 theo lối hợp âm. Và vì chúng là hai hợp âm sáu có tương quan quãng 4, 5 nên có thể thực hiện các bước nhảy như đã học.
    b. Nối tiếp II6 – V7: theo lối hợp âm để âm bẩy của hợp âm bẩy át được chuẩn bị. Muốn có âm hưởng tốt, trong nhiều trường hợp không nên giữ cả hai âm chung vì trong điệu trưởng có sự song song hai quãng ba trưởng hoặc hai quãng sau thứ (Hiện nay không còn cấm song song của hai quãng ba trưởng hoặc sáu thứ, nhưng tránh được vẫn tốt hơn). Trong điệu thứ hoà thanh hoặc trưởng hoà thanh sẽ có quãng hai tăng ở một trong ba bè trên.
    c. Nối tiếp II6 – K64 thì II6 nên tăng đôi âm ba để tăng cường cnn hạ át. Nếu tầng trên của II6 không có quãng 5, các bè tiến hành bình ổn, nếu có quãng năm thì phải dùng bước nhẩy để tránh quãng năm song song.
    II. hợp âm gốc bậc II
    Hợp âm gốc bậc II chỉ dùng trong điệu trưởng tự nhiên vì trong điệu thứ hoặc điệu trưởng hoà thanh, nó là hợp âm giảm, chỉ được dùng dưới hình thức đảo một.
    Cũng như hợp âm II6, nó đứng sau các hợp âm bậc I, IV và đứng trước các hợp âm át hoặc K64.
    1. phương pháp nối tiếp hai hợp âm có tương quan quãng ba.
    a. Theo lối hoà âm: Hai âm chung giữ nguyên, bè còn lại tiến hành bình ổn
    b. Theo lối giai điệu: có hai phương pháp:
    - Phương pháp thứ nhất: khi âm ba của hợp âm trước ở bè soprano hoặc bè têno thì có thể hoặc tiến hành quãng ba hoặc nhẩy quãng sáu từ âm ba của hợp âm trước sang âm ba của hợp âm sau. Bè trầm đi xuống quãng ba, hai bè còn lại ngược hướng với bè trầm.
    Phương pháp này gây nên sự thay đổi cách sắp xếp hợp âm từ hẹp sang rộng hoặc ngược lại từ rộng sang hẹp giống như phương pháp nhẩy âm ba khi nối tiếp hai hợp âm có tương quang quãng bốn- năm.
    - Phương pháp thứ hai: Bè trầm đi xuống quãng ba, ba bè trên ngược hướng với bè trầm: một bè lên quãng ba, hai bè nhẩy quãng bốn.
    Phương pháp này không làm thay đổi cách sắp xếp hợp âm.
    2. Nối tiếp hợp âm bậc II với các hợp âm khác:
    a. Nối tiếp I - II theo lối giai điệu, như đã nói ở phần nối tiếp hai hợp âm có tương quan quãng hai.
    b. Nối tiếp II - V nên theo lối giai điệu mặc dầu chúng có âm chung.
    c. Nối tiếp II - V7 nên theo lối hợp âm để âm bẩy cuâ hợp âm bẩy át được chuẩn bị.
    d. Nối tiếp II – K64 nên tránh cách sắp xếp có quãng năm ở ba bè trên của hợp âm bậc II. Nếu có quãng năm thì phải nhẩy âm.
    3. Các cách nối tiếp lướt: trong các phần trước, khi học các hợp âm chính, ta đã biết các dùng các hợp âm lướt có tương quan quãng bốn- năm với hai hợp âm đứng trước và sau nó. Trong phần bày ta thấy hợp âm lướt có thể có tương quan quãng hai với hợp âm đứng trước và sau nó, và hợp âm lướt có thể đứng giữa hai hợp âm khác nhau.
    Khi nối tiếp hai hợp âm có tương quan quãng hai trong lướt phải chú ý tránh quãng năm song song ở ba bè trên.
    a. I6 lướt tăng đôi â ba đứng giữa hợp âm sáu và hợp âm gốc bậc hai: bè trầm liền bậc, các bè trên bình ổn.
    b. I6 lướt tăng đôi âm năm, đứng giữa hợp âm IV6 và hợp âm II6
    hợp âm bậc VI - kết ngắt
    Ta đã biết hợp âm bậc VI mang hai chức năng: chủ và át. Tuỳ theo vị trí của nó trong vòng hoà thanh mà lúc nó mang tính chất trung gian, lúc thiên về chức năng chủ, lúc thiên về chức năng hạ át.
    1. Khi hợp âm bậc Vi đứng giữa hợp âm bậc I và bậc IV, chức năng của nó không rõ ràng, chỉ đóng vai trò hợp âm trung gian từ chủ sang hạ át mà thôi, nối tiếp theo tương quan quãng ba.
    2. Khi hợp âm bậc Vi đứng trước V, V7 hoặc K64 thì nó thiên về chức năng hạ át ví đó là vị trí điển hình của hạ át.
    a. Nối tiếp VI – K64. Nếu hợp âm bậc VI tăng đôi âm một thì bè trầm đi xuống liền bậc, ba bè trên bình ổn ngược hướng với bè trầm. Nếu hợp âm bậc Vi tăng đôi âm ba thì một âm chung đứng yên. Trong các cách nối tiếp này nên tránh nhẩy âm.
    b. Nối tiếp VI với V hoặc V7 phải theo lối giai điệu, dù hợp âm VI tăng đôi âm một hoặc âm ba.
    Trong điệu thứ, hợp âm VI phải được tăng đôi âm ba để tránh quãng hai tăng ở một trong ba bè trên. Nhưng nếu dùng bước nhẩy thì không cần tăng đôi âm ba ở hợp âm bậc VI nữa.
    3. Khi hợp âm bậc bậc VI đứng sau hợp âm bậc V hoặc V7 thì rõ ràng nó thiên về chức năng chủ, vì vậy thường được tăng đôi âm ba. ảtong điệu trưởng khi bè giai điệu là âm ba của hợp âm bậc V (tức âm dẫn) thì giải đi lên vào âm chủ. Nếu âm ba đó ở hai bè giữa thì có thể đi xuống liền bậc, còn trong điệu thứ, âm ba đó nhất thiết phải giải lên liền bậc, vì vậy mà hợp âm bậc VI luôn tăng đôi âm ba. Nếu dùng V7 thiếu thì âm một ở bè trên nhẩy vào âm ba của hợp âm bậc VI
    Nối tiếp như ví dụ trên trong cơ cấu bản nhạc được gọi là tiến hành ngắt, nhưng nếu dùng ở chỗ kết đoạn nhạc thì gọi là kết ngắt. Kết ngắt không có khả năng kết thúc ý nhạc vì hợp âm bậc VI không ổn định. Do đó đòi hỏi hoà thanh phải tiếp tục dẫn đến kết ổn định hoàn toàn. Kết ngắt trở thành một thủ pháp mở rộng đoạn nhạc quan trọng. Sau kết ngắt thường dùng các hợp âm hạ át bậc IV hoặc bậc II hoặc đôi khi I6.

  5. 16 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới NhatMinh cho bài viết hữu ích này:


  6. #13
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần

    Các hợp âm hạ át trong điệu trưởng hoà thanh

    Các hợp âm hạ át trong điệu trưởng hoà thanh
    1. Trong điệu trưởng hoà thanh, vì âm bậc VI của điệu thứ bị giáng nên các hợp âm hạ át có thay đổi:
    - Hợp âm VIht olà âh thứ, giống như trong điệu thứ.
    - Hợp âm IIht là hợp âm giảm. Cũng như trong điệu thứ, chỉ được dùng dưới hình thức đảo một (IIht6)
    - Hai hợp âm IVht và IIht được dùng một cách bình thường trong các cơ cấu nối tiếp hoà thanh.
    - Các hợp âm hạ át hoà thanh có thể được dùng sau khi các hợp âm hạ át tự nhiên. Ở một bè náo đó sẽ có bước đi xuống nửa cung crômatic.
    2. Lối quan hệ nửa cung crômatic (còn gọi là lỗi đối chếch)
    Những bước tiến nửa cung crômatic nhấtt thiết phải được đặt ở một bè. Nếu chuyển giao từ bè này sang bè khác thì phạm lỗi quan hệ nửa cung crômatic.
    Hợp âm bẩy bậc II (II7)
    Giống như các hợp âm bẩy khác, hợp âm bẩy bậc II cũng có ba thể đảo và ký hiệu như sau:
    Hợp âm bẩy bậc II mang chức năng hạ át và được dùng nhiều trong tác phẩm âm nhạc, đặc biệt ở thể đảo một (II65) nó giống như hợp âm bậc IV đầy đủ, thêm quãng sáu:
    Cấu tạo quãng của hợp âm bẩy bậc II tỏng điệu trưởng là hợp âm bẩy thứ- thứ, tức là thêm quãng bẩy thứ váo hợp âm thứ. Trong điệu thứ hoặc điệu trưởng hoà thanh nó là hợp âm bẩy thứ- giảm, tức là thêm quãng bẩy thứ vào hợp âm giảm.
    1. Hợp âm bẩy bậc II thường đứng sau hợp âm bậc I, bậc IV hoặc VI. Nối tiếp theo lối hợp âm để âm bẩy của II7 được chuẩn bị:
    2. Hợp âm II7 và các thể đảo của nó, trừ thể đảo ba (II2), còn lại đều có thể giải quyết vào hợp âm chủ hoặc K64:
    Âm bẩy đứng yên, các bè khác tiến hành bình ổn:

    II7 giải quyết vào I6
    I6
    II65 giải quyết vào I
    I64 lướt
    II43 giải quyết vào I64 lướt
    3. II7 và các thể đảo được giải quyết vào hợp âm bậc V giống như cách giải quyết V7 và các chủ thể đảo về bậc I.
    4. Trong các cách giải quyết, hợp âm bẩy bậc II ở trên, ta có thể dùng những bước nhẩy âm một sang âm một, âm năm sang âm năm hoặc nhẩy hỗn hợp như đã học, âm bẩy xuống liền bậc khi giải về hợp âm át hoặc đứng yên khi giải về hợp âm chủ và K64
    5. Hợp âm bẩy bậc II thường chuyển tiếp vào hợp âm bẩy át: âm bẩy và âm năm đi xuống liền bậc, hai âm còn lại đứng yên.
    6. Hợp âm bẩy bậc II trong các cách nối tiếp lướt và thêu
    Ta thấy các hợp âm lướt ở trên là I6 tăng đôi âm ba, I6 tăng đôi âm năm và VI6 tăng đôi âm năm. Trước và sau các hợp âm lướt đó có thể là hai hợp âm giống nhau hoặc khác nhau. Hợp âm II2 thêu giữa hai hợp âm bậc I thường hay được dùng trong các kết biến cách bổ sung.
    Hợp âm bẩy dẫn bậc VII (VII7)
    Gọi là hợp âm bẩy dẫn vì nó được xây dựng trên âm dẫn của điệu thứ. Nó mang chức năng át.
    1. Có hai loại hợp âm bẩy dẫn.
    Trong điệu trưởng tự nhiên, hợp âm này được xây dựng bằng cách thêm quãng bẩy thứ vào hợp âm giảm bậc VII nên được gọi là hợp âm bẩy dẫn thứ.
    Trong điệu trưởng hoà thanh và thứ hoà thanh, quãng bẩy thứ vào hợp âm giảm bậc VII nên dược gọi là hợp âm bẩy dẫn thứ:
    Trong điệu trưởng hoà thanh và thứ hoà thanh, quãng bẩy thêm vào hợp âm giảm bậc VII là quãng bẩy giảm nên nó được gọi là hợp âm bẩy dẫn giảm:
    Có thể tiến từ hợp âm bẩy dẫn thứ sang hợp âm bẩy dẫn giảm với bước tiến cửa cung crômatic ở một bè nào đó.
    Cũng như các hợp âm bẩy khác, hợp âm bẩy dẫn có ba thể đảo và ký hiệu như sau:
    2. Hợp âm bẩy dẫn được phép đứng sau tất cả các hợp âm đã học, nhưng thường thì nó được chuẩn bị bới các âh hạ át với nối tiếp hòa âm.
    3. Hợp âm bẩy dẫn giải quyết về hợp âm chủ tăng đôi âm ba theo quy tắc tiến hành bè như sau: âm một và âm ba đi lên liền bậc, âm năm và âm bẩy đi xuống liền bậc.
    Do đó: VII7 giải về I
    VII65 và VII43 giải vè I6
    VII2 giải về I64 lướt
    Âm ba có thể giải xuống liền bậc khi nó đứng trên âm bẩy. Âm năm có thể đi lên liền bậc khi nó đứng dưới âm một. Trong những trường hợp đó, hợp âm bẩy dẫn có thể giải về hợp âm chủ không tăng đôi âm ba (nhớ không được thay đổi hướng giải của âm một và âm bẩy)
    Có thể dùng bước nhảy khi giải VII43 về I6 giống như giải V2 về I6, do đó I6 cũng không cần tăng đôi âm ba.
    4. Trước khi giải về hợp âm chủ, hợp âm bẩy dẫn thường chuyển tiếp vào hợp âm bẩy át với âm bẩy đi xuống liền bậc (giải một phần) các âm khác giữ nguyên.
    5. Ở thể đảo hai (VII43) hợp âm bẩy dẫn mang nhiều tính chất hạ át vì có bè trầm là âm bậc IV của điệu thức, nó giống như hợp âm II6 thêm âm dẫn của điệu thức.
    VII43 thường được giải biến cách về hợp âm chủ và chuẩn bị bằng hợp âm bậc IV có thể tăng đôi âm năm, hoặc âm ba (khi dùng trong điệu trưởng )
    6. Đứng giữa hai hợp âm bẩy dẫn, có thể dùng có hợp âm lướt của cả ba chức năng: chủ, hạ át hoặc át.
    Hợp âm bẩy dẫn cũng có thể tham gia vào các vòng hoà thanh lướt khác.

    Hợp âm sáu bậc VII (VII6)
    1. Đây loà hợp âm giảm mang chức năng át, chỉ dùng ở thể đảo một.
    Tốt nhất là tăng đôi âm ba, chỉ tăng đôi âm năm khi cần thiết, không được tăng đôi âm một.
    2. Những điều kiện sắp xếp bè.
    a. Không đặt âm một (âm dẫn của điệu thức) ở bè têno để tránh quãng năm song song khi giải về hợp âm chủ:
    b. Khi có quãng năm ở hai bè trên (antô và sôprano) thì VII6 phải tăng đôi âm năm và âm năm ở bè sôprano phải được giải quyết đi xuống liền bậc.
    Tóm lại đối với hợp âm VII6 thì tốt nhất là để âm một ở bè sôprano.
    3. Hai cách dùng hợp âm VII6:
    a. Đứng giữa I và I6, giống như hợp âm lướt, nhưng khác ở chỗ là VII6 có thể đứng ở phách mạnh.
    b. Dùng VII6 để phối hoà thanh cho bốn âm trên (tứ huyền thượng) đi lên của gam trưởng tự nhiên hoặc thứ giai điệu. Bốn âm này có thể ở cuùng một bè sôprano hoặc antô, hoặc cũng có thể chuyển từ bè antô sang bè sôprano, từ bè têno sang bè antô.
    4. Khi phối cho bốn âm trên đi lên, không nhất thiết cứ phải dùng hợp âm VII6 mà còn có thể dùng V7, V3, V2.

  7. 17 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới NhatMinh cho bài viết hữu ích này:


  8. #14
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần

    Phần VI hợp âm bậc III trong điệu trưởng

    Hợp âm bậc III ít dùng trong điệu trưởng. Nó có chức năng kép: chủ và át (DT III), không dùng trong điệu thứ hoà thanh vì nó là hợp âm tăng.
    1. Cách dùng điển hình của hợp âm bậc III là để phối hoà thanh cho bốn âm trên (tứ huyền thương) đi xuống của gam trưởng tự nhiên. Nó đứng sau hợp âm bậc I hoặc VI và đứng trước hợp âm bậc IV. Nối tiếp các bè bình ổn:
    2. Trong điệu trưởng thường gặp hợp âm sáu bậc III tăng đôi âm trầm dùng thay hợp âm át giải về hợp âm chủ, nối tiếp theo lối hoà âm hoặc giai điệu.
    Hợp âm át thêm âm sáu
    1. Đây là hợp âm át thay thế âm năm bằng âm sáu. Hợp âm này có cấu tạo quãng giống như hợp âm sáu bậc III tăng đôi âm trầm. Thường âm sáu được đặt ở bè trên cùng.
    Hợp âm bẩy át cũng có thể được thay thế âm năm bằng âm sáu.
    2. Hợp âm có âm sáu thường được dùng ở kết, ở vị trí giành cho hợp âm bậc V hoặc V7. Như vậy nó thường đứng sau các hợp âm hạ át, chủ hoặc K64. Khi nó đứng sau K64 với âm sáu lưu thì quãng bốn của K64 được giải quyết xuống quãng ba.
    a. Âm sáu được giải quyết qua âm năm:
    b. Âm năm có thể tiến vào âm sáy trên nền của hợp âm át rồi giải thẳng về hợp âm chủ hoặc hợp âm bậc VI:
    c. Âm sáu thường được giải quyết xuống quãng ba, nhưng cũng có thể được giữ nguyên hoặc đôi khi được giải lên quãng ba:
    hợp âm chín át (V9) và chín hạ át (II9)
    1. Hợp âm chín át được xây dựng trên âm bậc V của điệu thức. Nó là hợp âm bảy át được chồng thêm một quãng chính tính từ âm một.
    Có hai loại hợp âm chín át:
    - Trong điệu trưởng tự nhiên, quãng chín đó là trưởng nênn gọi là hợp âm chín trưởng.
    - Trong điệu trưởng hoà thanh hoặc thứ hoà thanh, quãng chín đó là thứ nên gọi là hợp âm chín thứ.
    Hợp âm có năm âm trên còn có thể được coi như thêm âm át (bậc V của điệu thức) vào bè trầm của hợp âm bảy dẫn thứ hoặc hợp âm bẩy dẫn giảm:
    Hợp âm chín át rất ít dùng và thường chỉ sử dụng dưới hình thức gốc, không đảo. Khi sắp xếp hợp âm chín cần chú ý không để âm một và âm chín đứng gần nhau, tức là không để chúng trong cùng một quãng tám.
    Trong hoà thanh bốn bè hợp âm chín át thường bỏ âm năm.
    2. Hợp âm chín át có thể đứng sau bất kỳ hợp âm nào đã học, nhưng thường thì nó được chuẩn bị bởi các hợp âm hạ át với lối nối tiếp hoà âm để hai âm nghịch là 7 và 9 có chuẩn bị:
    Khi hợp âm chín át đứng sau hợp âm bẩy át thì âm bẩy của hợp âm bẩy át đi lên quãng ba vào âm chín của hợp âm chín át. Ngược lại, khi hợp âm chín át đứng trước hợp âm bẩy át bì âm chín của hợp âm chín át đi xuống quãng ba vào âm bẩy của hợp âm bẩy át:
    3. Hợp âm chín át đủ (5 âm) giải về hợp âm chủ tăng đôi âm ba: âm một ở bè trầm nhẩy vào âm một của hợp âm chủ, bốn bè còn lại giải về như hợp âm bẩy dẫn về chủ:
    Bốn bè trên của hợp âm chín át đủ giải về hợp âm chủ theo cách giải của hợp âm bẩy dẫn. Vậy trong một số cách sắp xếp nào đó- như đã học trong bài hợp âm bẩy dẫn- có thể giải về hợp âm chủ không tăng đôi âm ba.
    Hợp âm chín át thiếu bao giờ cũng giải về hợp âm chủ đủ: âm một nhảy vào âm một của hợp âm chủ, âm ba đi lên liền bậc âm bẩy và chín đi xuống liền bậc.
    4. Hợp âm chín át có thể được chuyển tiếp qua hợp âm bẩy át rồi mới giải về hợp âm chủ: âm chín đi xuống liền bậc, các bè khác giữ nguyên.
    5. Trong điệu trưởng tự nhiên, hợp âm chín át có thể là hợp âm lướt giữa hai hợp âm bậc IV nguyên vị và đảo một. Trong điệu trưởng tự nhiên hoặc điệu thứ giai điệu hợp âm chín át có thể đứng trước hợp âm bẩy bậc VI:
    6. Trong âm nhạc của trường phái lãng mạn châu Âu, hợp âm chín còn được dùng ở chức năng hạ át, xây dựng trên bậc II của điệu thức trưởng. Cũng giống như hợp âm chín át, hợp âm chín hạ át có thể được dùng đủ hoặc thiếu nốt, thường giải qua hợp âm chín át, bẩy át hoặc giải qua hợp âm bẩy hạ át với phương pháp giải từng phần như đã học:
    Vòng phrygiêng và kết phrygiêng trong điệu thứ tự nhiên
    Trong tác phẩm âm nhạc cổ điển châu Âu, điệu thức tự nhiên chỉ được dùng ở những đoạn rất ngắn của tác phẩm.
    Khi phối hoà thanh cho nhóm bốn âm trên (tứ huyền thượng) đi xuống của gam thứ tự nhiên thì gọi là vòng Phrygiêng
    Nếu dừng lại ở âm cuối cùng của nhóm bốn âm này với hợp âm át hoà thanh để làm kết nửa thì đó là kết phrygiêng.
    1. Nhóm bốn âm phrygiêng ở bè Sôprano.
    a. Thường dùng nhất là hợp âm bậc IIItn đứng sau hợp âm bậc I hoặc bậc VI và đứng trước bậc IV:
    b. Có thể thay thế hợp âm IIItn bằng hợp âm VIItn tăng đôi âm ba với cách nối tiếp các bè bình ổn như sau:
    c. Có thể coi âm dẫn tự nhiên của điệu thức như âm lướt, do đó hình thành hợp âm bẩy bậc I thay thế cho hợp âm IIItn.
    d. Cũng có thể dùng hợp âm bậc tự nhiên với lối tiến hành bè như sau:
    2. Nhóm bốn âm phrygiêng ở bè batx (hoặc bè trầm).
    a. Thường dùng hợp âm VIItn đứng giữa hợp âm bậc I và hợp âm sáu bậc IV:
    Trong các cách nối tiếp này, cần tránh đường nét không đẹp ở một trong ba bè trên:
    Chỉ xảy ra khi IV6 tăng đôi âm một. Muốn vậy cho âm một của hợp âm VIItn nhảy xuống quãng bốn vào âm một của hợp âm sáu bậc IV:
    b. Có thể dùng hợp âm sáu bậc V tự nhiên tăng đôi âm 5 thay cho hợp âm VII tự nhiên.
    c. Hoặc có thể coi âm dẫn tự nhiên của điệu thức như âm lướt, do đó hình thành hợp âm I2 thay thế cho hợp âm bậc VII tự nhiên:
    mô tiến điatônic
    Mô tiến là một thủ pháp quan trọng dùng để phát triển âm nhạc. Thường thường khi giai điệu mô tiến thì kéo theo mô tiến hoà thanh, nhưng cũng có thể là không như vậy. Có khi giai điệu mô tiến mà hoà thanh không mô tiến hoặc ngược lại, hoà thanh mô tiến mà giai điệu lại không mô tiến.
    Mô tiến bằng các hợp âm điatônic không vượt quá phạm vi một giọng thì gọi là mô tiến điatônic:
    1. Tổ mô tiến đơn giản nhất được thành lập bằng sự nối tiếp hai hợp âm với một tương quan chức năng nhất định nào đó. Tổ mô tiến đầu tiên cùng với cách sắp xếp hợp âm và phương pháp tiến hành bè sẽ được lặp lại nguyên vẹn trong các tổ mô tiến sau. Do đó mà các hợp âm giảm có thể để ở thể nguyên vị được.
    2. Tương quan chức năng hợp âm, chủ yếu chỉ được xét tới trong nội bộ từng tổ mô tiến riêng biệt (đặc biệt là tổ đầu tiên), mà không cần phải xét tới tương quan chức năng giữa hợp âm ở cuối tổ trước với hợp âm ở đầu tổ sau:
    3. Do tính chất lặp lại nguyên vẹn tổ mô tiến đầu mà có thể tiến hành ngược công năng ngay trong nội bộ những tổ mô tiến sau:
    4. Trong điệu thứ, chỉ những hợp âm át ở đầu và cuối của chuỗi mô tiến là dùng át hoà thanh, còn ở giữa chuỗi mô tiến thì dùng át của điệu thứ tự nhiên:
    5. Trong mô tiến không những có thể nối tiếp các hợp âm gốc với nhau, hợp âm gốc với hợp âm sáu hoặc ngược lại, mà còn có thể nối liên tiếp các hợp âm sáu:
    Nối tiếp song song các hợp âm sáu cũng được coi như mô tiến. Sự chuyển động song song của ba bè là cơ sở của chuỗi hợp âm sáu, kèm theo sự tăng đôi âm khác nhau:
    6. Mô tiến gồm hợp âm bẩy với hợp âm năm. Hợp âm bẩy thường được giải quyết về hợp âm năm đứng cao hơn nó quãng bốn, giống như bẩy át giải về chủ:
    7. Mô tiến các hợp âm bẩy thường thấy là hợp âm sau đứng cao hơn hợp âm trước quãng bốn, giống như cách chuyển tiếp hợp âm bẩy bậc II vào hợp âm bẩy bậc V: âm 5 và âm 7 đi xuống liền bậc, âm 3 đứng yên tạo thành âm nghịch có chuẩn bị cho hợp âm sau, âm 1 có thể giữ nguyên hoặc nhẩy vào âm 1 của hợp âm sau:
    Trong điệu thứ, chỉ những hợp âm bẩy nhóm át đứng ở cuối chuỗi mô tiến giải quyết về chủ là dùng điệu thứ hoà thanh còn đầu và giữa chuỗi mô tiến thì dùng điệu thứ tự nhiên:
    Trong mô tiến điatônic, các hợp âm bẩy có thể chỉ cần giải quyết trong từng tổ một, không cần giải quyết từ hợp âm cuối tổ trước sang đầu tổ sau:
    8. Thường thấy tổ mô tiến hai hợp âm, nhưng cũng có thể gồm ba hợp âm hoặc hơn nữa. Tổ mô tiến đầu tiên sẽ được thành lập theo một lôgic công năng nhất định nào đó rồi tiếp tục mô tiến đi lên hoặc đi xuống:

  9. 17 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới NhatMinh cho bài viết hữu ích này:


  10. #15
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần

    phần VII Sự hoá các âm trong điệu thức và các hợp âm biến âm

    phần VII
    Sự hoá các âm trong điệu thức và các hợp âm biến âm

    Sự hoá làm tăng sức hút nửa cung của các âm phụ về các âm chính trong một điệu thức. Hiệu quả của nó làm cho điệu thức được phong phú thêm mà không làm thay đổi điệu thức.
    Nếu ta đã biết, các âm chính của điệu thức: âm chủ, âm chung, âm át (kể cả âm dẫn) không được phép thay đổi, chỉ những âm: thượng chủ âm (bậc II), hạ át âm (bậc IV), và thượng át âm (bậc VI) là có thể bị hoá mà thôi.
    1. Trong điệu trưởng, âm bậc II có thể tăng hoặc giảm, âm bậc IV có thể tăng và âm bậc VI có thể giảm:
    2. trong điệu thứ hoà thanh, âm bậc IV có thể tăng hoặc giảm và âm bậc VI có thể tăng lên rồi hút về âm bậc V:
    Trên cơ sở của những âm bị hoá người ta có thể thành lập các hợp âm biến âm như sau:
    I. Các hợp âm át biến âm và cách sử dụng nó.
    1. Biến âm trong tổ át chỉ liên quan đến âm bậc II của điệu thức mà thôi. Do đó, hình thành ác hợp âm át như sau:
    Vì âm bậc II trong điệu thứ không được tăng, nên những hợp âm sau đây chỉ có trong điệu trưởng:
    Trong điệu trưởng, âm bậc II có thể tăng hoặc giảm nên đôi lúc có thể dùng các hợp âm át có âm 5 tăng, giảm đồng thời như sau:
    2. Đối với các hợp âm bị hoá, muốn có âm hưởng tốt thì nên đảo quãng ba giảm thành quãng sáu tăng:
    3. Chuẩn bị và giải quyết các hợp âm át biến âm.
    Các âm bị hoá trong các hợp âm át biến âm đượcc coi như những âm lướt crômatic. Vì vậy chuẩn bị tốt nhất cho chúng là các hợp âm cùng chức năng và cùng bậc chưa bị hoá.
    Cũng tốt khi chuẩn bị bằng các hợp âm hạ át với sự tiến hành bình ổn của các bè.
    Đôi khi cũng có thể dùng bước nhảy vào âm bị hoá rồi tiếp theo là bước giải quyết liền bậc phản hồi.
    Các hợp âm át biến âm được giải quyết về hợp âm chủ hay hợp âm bậc VI theo sức hút tự nhiên của các âm bị hoá:
    II. các hợp âm hạ át biến âm.

    1. Hợp âm bẩy giảm hạ át, được thành lập trên âm bậc II của điệu trưởng và âm bậc IV của điệu thứ:
    2. Hợp âm bẩy thứ- trưởng hạ át được thành lập trên âm bậc II của điệu trưởng và thứ:
    3. Hợp âm bẩy thứ- giảm hạ át được thành lập trên âm bậc IV của điệu thức trưởng. Trong điệu thứ, có thể dùng một hợp âm tương tự:
    Ba loại hợp âm bẩy vừa kể trên có hình thức cấu tạo quãng mà ta đã quen biết:
    - Hợp âm bẩy giảm ( bẩy dẫn giảm)
    - Hợp âm bẩy thứ- trưởng (bẩy át)
    - Hợp âm bẩy thứ- giảm (bẩy dẫn thứ)
    Chúng đều chứa đựng âm bậc IV tăng của điệu trưởng hoặc thứ, âm bậc VI tăng của điệu thứ và âm bậc II tăng hoặc không tăng của điệu trưởng.
    Còn các hợp âm bẩy đượcc trình bày dưới đây có hình thức cấu tạo quãng đặc biệt, thường để bè trầm là âm bậc VI của điệu thức:
    4. Hợp âm bẩy thứ- giảm giảm âm ba chỉ có trong điệu trưởng. Trong điệu thứ có một hợp âm tương tự, xây dựng trên âm bậc IV bị tăng, giảm đồng thời:
    Hai hợp âm trên khi đẳng âm có cấu tạo quãng là hợp âm bảy thứ- trưởng (bảy át) tăng âm năm.
    5. Hợp âm bẩy thứ- trưởng giảm âm năn xây dựng trên bậc II của điệu trưởng và thứ:
    Khi đẳng âm chúng có cấu tạo quãng là hợp âm bảy át giảm âm năm:
    6. Hợp âm bẩy át giả xây dựng trên bậc II của điệu trưởng và trên bậc IV của điệu thứ. Chúng mang tên như trên vì khi đẳng âm, có cấu tạo quãng là hợp âm bẩy át:
    Đẳng âm:
    7. Hợp âm sáu Napôliten: trong điệu thứ, có thể dùng hợp âm II đôi khi hợp âm này cũng được dùng trong điệu trưởng. Nó có tên gọi như trên vì được dùng đầu tiên trong các tác phẩm của các tác giả thuộc trường phái ca kịch Nopôliten, thế kỷ XVIII ở Ý.
    Sáu loại hợp âm hạ át biến âm vừa nêu trên (không kể hợp âm sáu Napôliten) đều có âm bậc IV của điệu thức bị tăng, theo sức hút tự nhiên về âm bậc V là âm át. Vì vậy, chúng còn được gọi là các ha át kép hay át trùng, từc là át của át:
    Trong đó ba loại hợp âm có cấu trúc quãng đặc biệt mà muốn cho âm hưởng đẹp thì phải đảo quãng ba giảm thành quãng sáu tăng. Do đó chúng có tên là các hợp âm có quãng sáu tăng, còn được gọi là hợp âm át kép bị hoá.
    Cách sử dụng các hợp âm hạ át biến âm
    Các hợp âm hạ át biến âm có thể dùng trong cơ cấu bản nhạc nhưng thường thấy nhất là ở chỗ kết, trước K64 hoặc trước các hợp âm chức năng át.
    I. Chuẩn bị cho các hợp âm hạ át biến âm.
    Những hợp âm này thường là nghịch nên cần thiết phải chuẩn bị cho chúng. Chúng có thể đứng sau các hợp âm bậc I hoặc bậc VI. Nhưng tốt nhất vẫn là dùng các hợp âm hạ át điatônic (chưa biến âm) để chuẩn bị cho chúng với cách nối tiếp các bè thật bình ổn.
    1. Khi chuẩn bị bằng các hợp âm hạ át thì ở một hoặc nhiều bè sẽ có bước tiến nửa cung crômatic, âm chung giữ nguyên, bè còn lại tiến hành bình ổn. Nếu có hai âm tăng đôi mà một âm tiến nửa cung crômatic thì âm còn lại phải tiến bình ổn ngược hướng với âm kia:
    2. Các hợp âm hạ át biến âm có thể đứng sau hợp âm bậc I và bậc VI. Các bè tiến hành bình ổn:
    3. Các hợp âm hạ át biến âm có thể đứng giữa hai hợp âm hạ át hoặc hai hợp âm K64 với vai trò của hợp âm thêu.
    Khi đứng giữa hai hợp âm chủ, có là hợp âm thêu với lối tiến hành biến cách, có thể dùng trong cơ cấu bản nhạc hoặc trong kết biến cách bổ sung:
    II. Cách giải quyết các hợp âm hạ át biến âm
    1. Giải quyết vào hợp âm K64 hoặc I64 lướt.
    Bè trầm tiến liền bậc, âm chung giữ nguyên, bè còn lại bình ổn:
    Các hợp âm hạ át biến âm có thể được giải về hợp âm sáu bậc III tăng đôi âm trầm. Hợp âm này được coi như hợp âm át có âm sáu treo, có thể thay thế cho K64 hoặc cho I64 lướt:
    2. Giải quyết vào hợp âm bậc V giống như cách giải quyết từ hợp âm bẩy át hoặc hợp âm bẩy dẫn về hợp âm chủ.
    Riêng các hợp âm có quãng sáu tăng được phép giải song song quãng năm Môda:
    Nếu muốn tránh quãng năm Môda thì có thể chuyển tiếp sang hợp âm hạ át biến âm bậc II trước khi giải về hợp âm át, hoặc giải qua hợp âm III6 (át có âm 6)
    III. Chuyển tiếp các hợp âm hạ át biến âm vào các hợp âm nghịch nhóm át.
    1. Ngược với sức hút tự nhiên, âm bậc IV tăng của điệu thức trong các hợp âm hạ át biến âm đi xuống nửa cung crômatic làm thành âm nghịch của hợp âm nhóm át, âm chung đứng yên, các bè khác tiến hành bình ổn như đã học:
    2. Khi muốn về kết hoàn toàn, được phép bỏ qua lỗi quan hệ của cung crômatic (lỗi đối chếch). Nhưng nếu vẫn muốn trành lỗi đó thì dùng bè trầm khác đi:
    IV. Chuyển tiếp các hợp âm hạ át biến âm vbào các hợp âm nghịch nhóm hạ át.
    Các hợp âm hạ át biến âm có thể chuyển tiếp vào các hợp âm nghịch nhóm hạ át không biến âm bằng cách hoàn lại các âm bị hoá.
    V. Hợp âm sáu Napoliten được dùng chủ yếu trong điệu thứ, rất ít dùng trong điệu trưởng. Điều kiện dùng nó giống như trong cách dùng hợp âm II điatônic.
    Khi IIn6 tăng đôi âm một thì âm một ở bè giữa có thể đi lên nửa cung để tiến vào hợp âm át hoặc hạ át biến âm.
    Từ IIn6 tiến vào hợp âm át hoặc hạ át biến âm đôi khi có thể bỏ qua lỗi quan hệ nửa cung crômatic. Tuy nhiên trong hoà thanh nghiêm khắc nên tránh làm như trên.

  11. 16 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới NhatMinh cho bài viết hữu ích này:


  12. #16
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần

    Phần VIII chuyển giọng tạm, các hợp âm át phụ và hạ át phụ

    phần VIII
    chuyển giọng tạm, các hợp âm át phụ và hạ át phụ

    chuyển giọng tạm còn được gọi là ly điệu, là sự chuyển từ giọng này sang giọng khác trong thời gian ngắn, nhiều khi chỉ trong một hợp âm, sau đó lại quay về giọng ban đầu hoặc tiếp tục chuyển tạm sang một giọng gần khác.
    Chuyển giọng tạm thường không có kết hoàn toàn trên giọng mới, do đó vai trò của giọng mới là giọng phụ cho một giọng chính quán xuyến toàn bài.
    1. Chuyển giọng tạm thường chỉ thực hiện với các giọng có quan hệ gần bậc nhất với giọng chính, tức là với các giọng mà hợp âm chủ của chúng là những hợp âm điatônic xây dựng trên điệu thứ trưởng tự nhiên hoặc thứ tự nhiên, lấy giọng gốc làm hợp âm chủ:
    Trong điệu trưởng còn có thể chuyển tạm sang giọng có hợp âm chủ là hợp âm bậc IVht và trong điệu thứ sang giọng có hợp âm chủ là hợp âm bậc Vht
    2. Trên cơ sở của các giọng phụ vừa nêu mà hình thành các hợp âm át phụ và hạ át phụ như sau:
    Tất cả các hợp âm át phụ vầ hạ át phụ cộng với hợp âm điatônic thành một hệ thống crômatic.
    3. Trong chuyển giọng tạm thường chỉ dùng hợp âm át phụ giải về hợp âm chủ tạm thời theo lối tiến hành D-T, ít khi dùng đủ cả hợp âm hạ át phụ và át phụ S – D – T và càng hiểm gặp lối giải biến cách S - T
    Khi chuyển giọng tạm, các bè cần hết sức bình ổn: âm chung giữ nguyên và tránh lối quan hệ nửa cung crômatic.
    Âm tăng đôi có thể được phép tiến hành quãng ba ngược hướng thay cho tiến liền bậc ở bè trầm hoặc đôi khi ở bè giữa:
    Chuyển giọng
    I. Khái niệm.
    Tác phẩm âm nhạc, nhất là những tác phẩm dài, thường được trình bày qua nhiều giọng khác nhau, trong đó có một giọng chính và nhiều giọng phụ.
    Chuyển điệu tính là thay đổi cao độ của bản nhạc, thay đổi chủ âm, kéo theo sự thay đổi chức năng của hợp âm. Ví dụ khi chuyển từ C – dur sang G – dur thì hợp âm đo trưởng trước là hợp âm chủ sau chuyển thành hợp âm hạ át.
    Chuyển điệu thức còn gọi là chuyển thể thì chỉ thay đổi màu sắc của điệu thức mà không thay đổi chủ âm.
    Chuyển giọng phải là chuyển điệu tính, đồng thời có hoặc không chuyển điệu thức.
    Có ba phương pháp chủ yếu để chuyển giọng được tổng kết trong âm nhạc cổ điển và lãng mạn châu Âu:
    1. Chuyển giọng công năng là giữa giọng gốc và giọng chuyển đến có hợp âm chung và hợp âm chung có thay đổi chức năng phù hợp với cả hai giọng.
    Chuyển giọng công năng gây cảm giác bình ổn, không đột biến, giọng chuyển đến ổn định, do đó được dùng nhiều trong tác phẩm âm nhạc, nhất là trong nội bộ phần trình bày và phần tái hiện.
    2. Chuyển giọng đẳng âm giống chuyển giọng công năng ở chỗ chũng có hợp âm chung và hợp âm chung đó cũng thay đổi chức năng nhưng khác bởi những hợp âm chung đó đều ở dạng hợp âm biến âm, không phải ở dạng hợp âm điatônic như trong chuyển giọng công năng. Phần lớn chúng là hợp âm nghịch.
    Khi thay đổi chức năng của hợp âm chung thì đồng thời thay đổi cách viết hợp âm đó và thay đổi cả sức hút nửa cung của các âm trong hợp âm chung.
    Chuyển giọng đẳng âm thường gây bước ngoặt về âm hưởng, tạo sự tương phản mạnh về màu sắc, do đó trong tác phẩm âm nhạc thường gặp chuyển giọng đẳng âm ở chỗ tiếp giáp của hai đoạn nhạc khác nhau, ví dụ trong thể ba đoạn thì từ đoạn A sang đoạn B. Trong sonate thì từ phần trình bày sang phần phát triển. Cũng thường gặp phương pháp chuyển giọng này trong nội bộ phần phát triển.
    Chuyển giọng đẳng âm thường dùng để chuyển đột biến sang các giọng xa từ cấp hai trở lên. Nếu chuyển giọng sang giọng quan hệ gần thì hiệu quả không rõ.
    3. Chuyển giọng bất ngờ còn gọi là chuyển giọng kết hợp giai điệu với hoà thanh, thường dùng cho các giọng có quan hệ xa. Giọng gốc và giọng chuyển đến không ràng buộc với nhau bằng sự thay đổi chức năng của hợp âm chung như trong chuyển giọng công năng hoặc chuyển giọng đẳng âm. Sự ràng buộc và liên hệ ở đây là giai điệu hết sức bình ổn của các bè, đặc biệt hai bè ngoài cùng. Trên cơ sở đó dựng nên những hợp âm át của giọng chuyển đến rồi giải vào hợp âm chủ.
    Chuyển giọng bất ngờ cũng như chuyển giọng đẳng âm thường thấy ở nội bộ các phần phát triển của tác phẩm. Ở đây giọng điệu thường bị xáo động, không ổn định.
    Còn hai phương pháp chuyển giọng dưới đây, tuy đối với cổ điển và lãng mạn là thứ yếu nhưng lại thấy dùng nhiều trong các tác phẩm cận đại và hiện đại, chúng là biến dạng của chuyển giọng bất ngờ.
    4. Chuyển giọng bằng giai điệu:
    Dựa vào sự chuyển động giai điệu của một hoặc hai bè từng bước đưa vào những nhân tố của giọng mới rồi tiến thẳng vào nó:
    5. Nhảy giọng: trực tiếp kết hợp thẳng hợp âm chủ của giọng gốc với hợp âm chủ của giọng chuyển đến. Thường giữ âm chung, các bè khác thật bình ổn.

  13. 14 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới NhatMinh cho bài viết hữu ích này:


  14. #17
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần

    II. Quan hệ họ hàng giữa các giọng

    II. Quan hệ họ hàng giữa các giọng.
    Khi xét quan hệ họ hàng giữa các giọng với nhau người ta thường căn cứ vào ba yếu tố sau:
    - Hoá biểu
    - Số lượng hợp âm chung
    - Vị trí chức năng của hợp âm chung.
    Trên cơ sở đó, người ta phân ra ba cấp họ hàng của các giọng:
    Cấp I, cấp II, cấp III. Trong đó cấp I và cấp II lại chia ra từng loại như:
    + Cấp I loại 1
    + Cấp I loại 2
    + Cấp I loại 3
    + Cấp II loại 1
    + Cấp II loại 2
    + Cấp II loại 3
    Cấp III không phân loại. Nó có tính ước lệ, đó là các giọng có quan hệ xa, chúng không có hợp âm chung của nhau.
    Ta sẽ thấy sự phân cấp chủ yếu căn cứ vào vị trí chức năng của hợp âm chung và sự phân loại căn cứ vào số lượng của hợp âm chung.
    Hoá biểu nhiều khi không phải là chỗ dựa vững chắc cho sự phân cấp, phân loại.
    Ví dụ:
    C-dur với fis-moll chỉ cách nhau ba dấu hoá nhưng là cấp III, trong khi đó:
    C-dur với f-moll cách nhau bốn dấu hoá thì lại là cấp I và:
    C-dur với h-moll cách nhau hai dấu hoá hoặc C-dur với H-dur cách nhau năm dấu hoá thì lại có quan hệ cấp II.
    Ngoài ra trong thực tiễn sáng tác và biểu diễn âm nhạc thường hau dùng đẳng âm giả để giảm bớt dấu hoá.
    Ví dụ:
    Des-moll có tám dấu giáng thường được đẳng âm thành cis-moll có bốn dấu thăng. Do đó làm thay đổi số lượng dấu hoá.
    Nếu xét cis-moll với As-dur, cách nhau tám dấu hoá, như vậy là quá xa nhau nhưng thực tế chúng chỉ là quan hệ cấp I với nhau. Tuy nhiên, trong một số trường hợp hoá biểu vẫn được coi là một căn cứ dễ phân cấp phân loại các giọng điệu. Nhất là khi chúng cùng có dấu thăng hoặc có cùng dấu giáng trong hoá biểu.
    1. Các giọng có quan hệ cấp I còn gọi là các giọng có quan hệ gần bậc nhất.
    Các giọng điệu có quan hệ cấp I với một giọng gốc nào đó là những giọng mà hợp âm chủ của chúng là những hợp âm điatônic có trong điệu trưởng tự nhiên hoặc điệu thứ tự nhiên lấy giọng gốc làm hợp âm chủ.
    Giọng gốc là trưởng thì có thêm một giọng mà hợp âm chủ của nó là bậc IVht:f-moll
    Giọng gốc là thứ thì có thêm một giọng mà hợp âm chủ của nó là bậc Vht:G-dur
    Cấp I còn chia làm ba loại:
    - Loại I là giọng song song với giọng gốc, chúng có chung hoá biểu với giọng gốc:
    C-dur – a-moll
    C-moll – Es-dur
    - Loại 2 là những giọng đứng ở bậc IV, bậc V (so với giọng gốc ) và hai giọng song song (của bậc VI và V), chúng có hoá biểu cách giọng gốc một dấu hoá:

    F G
    C-dur

    d e


    f g
    C-moll

    As B

    - Loại 3 là giọng có hợp âm chủ là bậc IVh của gốc trưởng và bậc Vht của gốc thứ. Chúng có hoá biểu cách giọng gốc bốn dấu hoá:
    C-dur - f(IVht)
    C-moll - G(Vht)
    2. Hợp âm chung và số lượng hợp âm chung.
    Trong chuyển giọng công năng, hợp âm chung được dùng chủ yếu là những hợp âm thuận: hợp âm trưởng hoặc hợp âm thứ, ít dùng hợp âm nghịch.
    Hợp âm chung có một chức năng nhất định trong giọng gốc thì đối với giọng chuyển đến nó lại đóng vai trò chức năng khác. Chúng là khâu trung gian giữa hai giọng, do đó có thể ví chúng như những cái bản lề để lật từ giọng cũ sang giọng mới.
    a. Hai giọng có quan hệ cấp I loại 1 thì có bẩy hợp âm năm và bẩy hợp âm bẩy là những hợp âm chung, trong đó quan trọng nhất là sáu hợp âm thuận.
    b. Hai giọng có quan hệ cấp I có bốn hợp âm chung: hai hợp âm chủ của hai giọng với hai hợp âm song song của chúng, và ba hợp âm bẩy chung.
    c. Hai giọng có quan hệ cấp I loại 3 thì chủ có hai hợp âm chung là chúnh hai hợp âm chủ của hai giọng đó.
    3. Hợp âm chuyển giọng- kết chuyển giọng.
    Đứng sau hợp âm chung là hợp âm chuyển giọng, đó là những hợp âm thuộc chức năng hạ át, át hoặc K6 của giọng chuyển đến. Thường thường chúng thuộc chức năng hạ át, nhiều khi có biến âm tạo điều kiện thuận lợi cho kết của giọng sau.
    Kết chuyển giọng là để khẳng định giọng mới và lối kết đầy đủ hoàn toàn xác định rõ ràng giọng mới. Do đó những hợp âm thuộc chức năng hạ át của giọng mới trong kết có một vai trò quan hệ nhiều khi phải củng cố hạ át bằng cách chuyển tạm và hạ át của giọng mới rồi tiến vào kết hoàn toàn.
    4. Các bước trong chuyển giọng công năng.
    Có thể dùng nhiều thủ pháp khác nhau trong quá trình chuyển giọng nhưng để có được hiệu quả chuyển giọng rõ ràng và chắc chắn thì phải thực hiện liên tục bốn bước sau đây:
    a. Trình bầy rõ giọng gốc.
    b. Tiến vào hợp âm chung.
    c. Chuyển tiếp vào hợp âm chuyển giọng.
    d. Cấu tạo kết hoàn toàn trên giọng mới

  15. 17 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới NhatMinh cho bài viết hữu ích này:


  16. #18
    THCS jangmin's Avatar
    Ngày tham gia
    02-09-2011
    Đang ở
    Đà Nẵng
    Bài viết
    5
    Thanks
    36
    Thanked 9 Times in 1 Post
    Tất cả các lý thuyết trên mình đã được học, nhưng gần như đã quên hết, vì mình sau khi học chỉ chú tâm vào làm việc có liên quan đến âm nhạc như thu âm , stac, cover, phối... bản năng là chính nữa
    Cảm ơn bạn đã chia sẻ, mình sẽ châm cứu lại toàn bộ nội dung này

  17. #19
    THCS
    Ngày tham gia
    07-03-2012
    Đang ở
    Finland
    Bài viết
    18
    Thanks
    19
    Được THANKS 7 lần
    Các bác cho em hỏi: khi hòa âm phối khí thì nên/không nên áp dụng những gì trong các bài lý thuyết về hòa thanh 4 giọng này?

  18. #20
    Trung cấp

    Ngày tham gia
    17-05-2010
    Đang ở
    Bình Thuận
    Bài viết
    193
    Thanks
    547
    Được THANKS 1,115 lần
    Khi hòa âm phối khí thì nên qiên hết mấy cái trên đi bạn à, nhức đầu lắm. Nên làm những cái gì mình biết và thấy có lợi cho bản phối

  19. 4 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới nxlh2n cho bài viết hữu ích này:


Trang 2 của 3 Đầu tiênĐầu tiên 123 CuốiCuối

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •