Forum Home Your IP: 54.80.219.236

Trang 2 của 4 Đầu tiênĐầu tiên 1234 CuốiCuối
Kết quả 11 đến 20 của 31

Chủ đề: Lý thuyết Phân tích tác phẩm âm nhạc

  1. #1
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần

    Lý thuyết Phân tích tác phẩm âm nhạc

    PHÂN TÍCH TÁC PHẨM ÂM NHẠC

    Khi nghe một tác phẩm âm nhạc, để hiểu và cảm nhận thấu đáo nội dung và ý của tác giả, ngoài phần rung cảm của tâm hồn, ta còn cần có một số vốn kiến thức phân tích tác phẩm âm nhạc. Từ đó người sáng tác có thể nắm bắt được quy luật mà vận dụng sáng tạo, người biểu diễn có thể xử lý tốt để có thể truyền đạt được ý đồ của nội dung tác phẩm, người nghiên cứu có thể mổ xẻ tác phẩm, đúc kết được những lý luận âm nhạc.

    Phân tích tác phẩm là một môn Lí thuyết âm nhạc. Nó giúp ta hiểu được sự cấu tạo của tác phẩm âm nhạc, từ cấu tạo nên hình thức đến xây dựng một tác phẩm âm nhạc. Bất cứ loại hình nghệ thuật nào thì hình thức và nội dung đều có sự gắn bó với nhau. Nhưng, đặc biệt trong lĩnh vực âm nhạc thì hình thức và nội dung gắn bó rất hữu cơ với nhau, khó tác bạch.

    Cho nên ta có thể nói: “Học phân tích tác phẩm âm nhạc là học hình thức âm nhạc". Mà học hình thức âm nhạc của một tác phẩm nào là ta đã phân tích ý nghĩa và nội dung âm nhạc của tác phẩm đó rồi. Dĩ nhiên ta hiểu nội dung ở đây là nội dung âm nhạc của tác phẩm,chứ không bó hẹp trong nội dung ý nghĩa của văn từ trong lời ca của tác phẩm, cũng không chỉ riêng về mặt ý nghĩa triết học mà tác phẩm đạt tới. Không chỉ chỉ riêng về mặt tình cảm tác động với tâm sinh lý người nghe, mà nội dung âm nhạc là sự tổng hợp về sự nhận thức của con người qua âm thanh, nó trừu tượng, lại rất cụ thể.

    Môn Phân tích tác phẩm âm nhạc có nhiều tên gọi như: Khúc thức, Hình thức âm nhạc, tác khúc... nhưng nội dung chỉ là một. Quyển sách này mang đến cho các bạn kiến thức nghiên cứu cách cấu tạo nên một tác phẩm âm nhạc, từ những nhân tố nhỏ nhất, cơ bản nhất, đến những quy luật cấu tạo nên những tác phẩm âm nhạc đủ loại, từ đơn giản đến phức tạp, từ ngắn đến dài...

    Để được xuyên suốt trong toàn bộ topic, các thắc mắc, trao đổi, góp ý xin các bạn đăng tải tại topic Hỏi đáp, trao đổi về [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] nhé, cảm ơn và mong các ý kiến góp ý cũng như trao đổi của các bạn.


  2. #11
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần

    Hình thức ba đoạn đơn.

    III. Hình thức ba đoạn đơn.
    1. Định nghĩa, sơ đồ chung.
    Hình thức ba đoạn đơn gồm ba phần, mỗi phần không vượt quá khuôn khổ một đoạn nhạc. Mỗi phần của hình thức có chức năng độc lập, trình bày, phần giữa, tái hiện:

    a b a'
    Trình bày Phần giữa Tái hiện

    Hình thức ba đoạn đơn có mối liên quan logic với hình thức hai đoạn đơn tái hiện. Trong hình thức hai đoạn đơn tái hiện nếu câu thứ nhất của hai đoạn được mở rộng phát triển thành một đoạn nhạc độc lập và đặc biệt quan trọng là câu tái hiện của đoạn hai sau khi họa lại câu nào đó của đoạn một, tiếp tục mở rộng khuôn khổ trở thành đoạn nhạc độc lập, khi ấy sẽ trở thành hình thức ba đoạn đơn. Vì vậy hình thức ba đoạn đơn được sinh ra từ hình thức hai đoạn đơn có tái hiện.
    Trong thực hành phân tích tác phẩm có trường hợp mối tương quan về khuôn khổ giữa các phần của hình thức không tương ứng về số lượng, cần phải tìm ra hàng loại sự khẳng định của phần tái hiện như họa lại chất liệu chủ đề, sự hình thành mối tương quan cấu trúc như một đoạn nhạc.
    2. Chức năng từng phần, các dạng cấu trúc.
    Mỗi phần của hình thức ba đoạn đơn có chức năng độc lập: trình bày, phần giữa, tái hiện.
    a. Phần thứ nhất (đoạn a)
    Phần thứ nhất của hình thức ba đoạn đơn là đoạn nhạc trình bày, thường kết thúc ở điệu tính chính hoặc chuyển đến điệu tính át hoặc điệu tính bậc III.
    b. Phần giữa (đoạn b)
    Tùy thuộc vào nội dung của phần giữa mà hình thức ba đoạn đơn được phân thành hai dạng cơ bản:
    - Phát triển: khi phần giữa phát triển chất liệu từ phần thứ nhất
    - Tương phản: khi phần giữa chứa đựng chất liệu của chủ đề mới.
    * Hình thức ba đoạn đơn phát triển.
    Hình thức ba đoạn đơn phát triển được sử dụng rộng rãi trong thể loại nhạc đàng và thanh nhạc. Dạng này nổi bật bằng tính tập trung chủ đề, có tính cân bằng cấu trúc và trong một số trường hợp phần giữa của hình thức có thể phát triển căng thẳng chất liệu chủ đề, liên quan tới sự thay đổi của đặc điểm hình tượng.
    Phần giữa của hình thức ba đoạn đơn phát triển điển hình với tính không ổn định về cấu trúc, về điệu tính và tính căng thẳng rất lớn của quá trình. Đổi mới chất liệu chủ đề được thực hiện bằng các phương pháp khác nhau trong đó những mẫu mực cổ điển phổ biến nhất là chia cắt chất liệu phù hợp với các quá trình chuyển điệu.
    c. Phần tái hiện.
    Phần tái hiện của hình thức ba đoạn đơn có thể được thực hiện như sau:
    - Họa lại chất liệu chủ đề của phần thứ nhất không thay đổi.
    - Họa lại có thay đổi chất liệu chủ đề của phần thứ nhất trong tương quan về facture.
    - Thay đổi dàn ý ý hòa âm của chất liệu chủ đề so với phần trình bày tạo thành phần tái hiện có động lực.
    [B]3. Các phần phụ, sự nhắc lại từng phần.
    a. Các phần phụ trong hình thức ba đoạn đơn
    [/B].
    Ngoài ba phần chính, hình thức ba đoạn đơn có thể có các phần phụ: mở đầu, nối tiếp, kết.
    b. Sự nhắc lại từng phần của hình thức ba đoạn đơn.
    Cũng như một số hình thức khác, hình thức ba đoạn đơn có thể được nhắc lại từng phần. Thông thường phần trình bày được nhắc lại riêng, sau đó phần giữa và phần tái hiện được nhắc lại liền nhau:

    Trình bày Phần giữa Tái hiện
    a b a

    Việc nhắc lại phần giữa cùng với phần tái hiện không phải ngẫu nhiên, đặc biệt ở dạng cấu trúc hình thức ba đoạn đơn phát triển; bởi đó còn là mối liên hệ logic giữa hình thức ba đoạn đơn với hình thức hai đoạn đơn tái hiện. Đôi khi phần thứ nhất của hình thức không nhắc lại mà chỉ nhắc lại phần giữa và phần tái hiện:
    Mỗi lần nhắc lại có thể nguyên dạng nhưng cũng có thể nhắc lại có thay đổi.
    4. Ứng dụng.
    Hình thức ba đoạn đơn được sử dụng rộng rãi cho tác phẩm khí nhạc, trong các concerto cho nhạc cụ độc tấu và dàn nhạc, chương hai thường là chương nhạc có tính trữ tình nên có tác phẩm chương này được cấu trúc ở hình thức ba đoạn đơn.
    Hình thức ba đoạn đơn còn dùng để cấu trúc một phần của hình thức ba đoạn phức, chủ đề của hình thức rondo, hình thức sonate.

  3. 14 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới NhatMinh cho bài viết hữu ích này:


  4. #12
    Cao Đẳng
    NhatMinh's Avatar
    Ngày tham gia
    06-08-2011
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    207
    Thanks
    3,502
    Được THANKS 3,030 lần

    Hình thức hai và ba đoạn phức.

    IV. Hình thức hai đoạn phức.
    1. Định nghĩa- sơ đồ chung.
    Hình thức hai đoạn phức gồm có hai phần, mỗi phần là hình thức hai đoạn đơn hoặc ba đoạn đơn. Hình thức hai đoạn phức có nguồn gốc từ thể lại Rhapsodie, các thể loại Ballade, fantaisie và những bài hát thơ có hai phần tương phản, được phân biệt cả về mối tương quan của nhịp độ:

    A Y B
    Chậm Nhanh
    (tính chất nhảy múa)

    Hình thức hai đoạn nhạc phức thường viết cho tác phẩm thanh nhạc.
    2. Cấu trúc.
    Hình thức hai đoạn phức thường gặp hai dạng cấu trúc chính:
    * Dạng thứ nhất dựa trên sự đối chiếu của các phần tương phản mạnh trong sự khác biệt rõ ràng về nhịp độ. Dạng này dùng phổ biến trong nhạc kịch thể hiện tính cách của nhân vật liên quan đến các khía cạnh, cảm xúc nội tâm khác nhau.
    Sự tương phản giữa hai phần được biểu hiện rất mạnh trong mối tương quan về nhịp độ, trong khi dán ý điệu tính có sự cân xứng rõ ràng, là nhân tố thống nhất quan trọng cùng với phần kết ngắn chứa đựng chất liệu chủ đề từ phần thứ nhất:
    A B Coda
    a-b-b1a
    C-dur-H-dur a-a1
    H-dur-C-dur

    * Dạng thứ hai của hình thức hai đoạn phức là mối liên quan mạnh mẽ giữa các phần. Điều đó thường gặp trong các khúc nhạc có đặc điểm tiết tấu "motor". Mối liên quan giữa hai phần đôi khi dẫn đến sự xuất hiện của tính chất tái hiện trong khuôn khổ của phần hai:

    A Nối B
    a-a1-b a-ba1

    Dàn ý điệu tính rất sinh động, phù hợp với sự tìm tòi thể hiện của nhà soạn nhạc. Tính thống nhất của toàn hình thức được tăng cường từ màu sắc, thể loại dân tộc rõ nét của chất liệu chủ đề và sự thống nhất của phương tiện cấu tạo dàn nhạc.
    V. Hình thức ba đoạn phức.
    1. Định nghĩa, sơ đồ chung.
    Hình thức ba đ
    oạn phức là hình thức ba phần tái hiện, trong đó hai phần đầu và cuối, cùng một chất liệu chủ đề là hình thức hai đoạn đơn hoặc và đoạn đơn; còn phần giữa có cấu trúc tương phản với hai phần đầu và phần cuối; thường viết ở hình thức hai đoạn đơn, ba đoạn đơn, đôi khi là đoạn nhạc hoặc là một đoạn phát triển tự do không ổn định
    Sơ đồ chung của hình thức ba đoạn phức là:
    A Nối B
    Phần thứ nhất
    - Hai đoạn đơn
    - Ba đoạn đơn Phần giữa
    - Hai đoạn đơn
    - Ba đoạn đơn
    - Đoạn nhạc hay đoạn nhạc phát triển tự do Phần tái hiện
    - Hai đoạn đơn
    - Ba đoạn đơn


    Theo tương quan sơ đồ chung của hình thức ba đoạn phức là gần với hình thức ba đoạn đơn tương phản. Tăng cường mở rộng khuôn khổ của sự tương phản và phức tạp hóa trong cấu trúc các phần của hình thức là hiện tượng điển hình cho giai đoạn lịch sử mới hơn của sự phát triển âm nhạc. Kết quả của khuynh hướng đó dẫn tới sự hình thành của sự hình thức ba đoạn phức.
    Hình mẫu sớm nhất của hình thức ba đoạn phức trong tổ khúc cổ được hình thành trong việc thống nhất của các điệu nhảy liền kết trong tổ khúc gồm phần thứ nhất được tái hiện lại.
    2. Cấu trúc từng phần.
    a. Phần thứ nhất.
    Phần thứ nhất của hình thức ba đoạn phức cổ điển là thống nhất chủ đề. Điển hình nhất là hình thức hai đoạn đơn hoặc ba đoạn đơn phát triển. Cuối phần thứ nhất được kết hoàn toàn ở điệu tính chính, tạo ra sự ngưng nghỉ sâu sắc ranh giới với phần thứ hai- phần giữa của hình thức.
    Đôi khi phần thứ nhất của hình thức ba đoạn phức viết ở hình thức ba đoạn đơn tương phản.
    Phần thứ nhất của hình thức ba đoạn phức thường bắt đầu và kiến thức ở điệu tính chính, tuy nhiên có vài trường hợp phần này kết thúc ở điệu tính phụ thuộc.
    b. Phần thứ hai.
    Phần thứ hai phần giữa của hình thức ba đoạn phức bước vào giai đoạn đối chiếu tương phản với hai phần đầu và phần cuối.
    Sự đối chiếu tương phản là nguyên tắc căn bản trong cấu trúc của hình thức ba đoạn phức, được sử dụng các phương pháp đa dạng. Có thể thay đổi cách cấu tạo, thay đổi âm vực xuất hiện đa dạng giai điệu mới.
    * Tương phản giữa tính chất phát triển tích cực, sinh động với tính chất yên tĩnh.
    * Tương phản giữa tính chất hành khúc tang lễ bi thương với tính chất em dịu, quên lãng.
    * Nếu là tác phẩm viết cho dàn nhacjphaanf thứ hai luôn có sự thay đổi về âm sắc.
    * Ở các mẫu cổ điển sau này, phần thứ hai thường chuyển sang điệu tính phụ thuộc hướng hạ át. Phần thứ hai của hình thức ba đoạn phức có thể thay đổi về gam và được ghi là " Maggrore", " Minoro" hoặc các tác phẩm cổ hơn được ghi " Alternativo" (luôn phiên).
    Phần thứ hai của hình thức ba đoạn phức có hai dạng cơ bản.
    * Dạng trio.
    Nổi bật của dạng Trio trong phần hai của hình thức ba đoạn phức là hình thành cấu trúc và ổ định điệu tính. Chứa đựng chất liệu chủ đề mới tương phản và viết ở hình thức hai đoạn đơn.
    * Dạng đoạn chen (épisode)
    Phần giữa là đoạn chen có nghĩa là không hình thành cấu trúc và không ổn định điệu tính dù sử dụng chất liệu mới hay phát triển chất liệu cũ từ phần thứ nhất.
    c. Phần tái hiện
    Phần tái hiện của hình thức 3 đoạn phức trong các mẫu cổ điển là tiếp ngay sau phần giữa không cần chuẩn bị. Đó là tính quy luật về bước nhẩy và điền đầy bước nhẩy theo nghĩa rộng. Trong 3 đoạn phức khi xuất hiện phần Trio tạo ra bước nhẩy trong sự so sánh tương phản với phần thứ nhất, còn nối tiếp đến phần tái hiện là sự điền đầy bước nhảy.
    Phần tái hiện trong hình thức 3 đoạn phức cũng như mọi phần tái hiện trong âm nhạc có thể nguyên dạng hoặc thay đổi.
    Trong nhiều mẫu mực cổ điển, phần tái hiện là nguyên dạng phần thứ nhất nên chỉ cần ghi " Da Capo al Fine ".
    Phần tái hiện thay đổi đơn giản nhất là bỏ bớt sự nhắc lại các đoạn đơn trong từng phần.
    Sự thay đổi sâu sắc hơn trong phần tái hiện được đưa thêm vào trong chất liệu âm nhạc, tạo nên hai dạng thay đổi cơ bản là thay đổi biến tấu và thay đổi phát triển.
    Phần tái hiện được họa lại kiểu thay đổi biến tấu vẫn giữ lại cấu trúc như phần thứ nhất.
    Phần tái hiện thay đổi phát triển là đa dạng. Thông thường sự thay đổi phát triển thể hiện ở đoạn cuối của ở phần tái hiện. Nhưng cũng có trường hợp sự thay đổi diễn ra trong toàn bộ phần tái hiện, ngay từ thời điểm đầu.
    Thay đổi phát triển trong phần tái hiện dẫn tới mở rộng khuôn khổ , thay đổi dàn ý hòa âm, facture… tạo nên tính chất sinh động.
    3. CÁC PHẦN PHỤ
    Mở đầu, nối tiếp, coda.
    Phần mở đầu dài ngắn tùy tác phẩm. Chủ đề là tương phản với chủ đề tác phẩm hoặc có liên quan đến chủ đề chính của tác phẩm, chuẩn bị cho phần chính.
    Vai trò của coda là đặc biệt quan trọng tạo tính chất kết thúc nhờ sự ổn định về hòa thanh.
    4. NHỮNG THAY ĐỔI TRONG CẤU TRÚC HÌNH THỨC 3 ĐOẠN PHỨC
    Hình thức 3 đoạn phức tiếp nhận phát triển rộng rãi qua các thời kỳ của âm nhạc lãng mạn, hiện đại. Mối quan hệ giữa các phần chính cũng như nội dung phát triển chủ đề cũng như thay đổi. Mỗi phần của hình thức có thể viết ở hình thức 3 đoạn đơn tương phản và chứa đựng chủ đề khác loại , đổi tỷ với mẫu mực cổ điển.
    Trong một vài tác phẩm lãng mạn có khuynh hướng làm dịu sự tương phản đối chiếu ranh giới giữa phần thứ nhất và phần thứ hai. Đôi khi không có dấu nghỉ và phần thứ hai không phân rõ ranh giới với phần thứ nhất mà được chuyển tiếp ngay.
    Những cấu trúc này có sự giải thích cho sử đổi mới nguyên tắc cơ bản trong cấu trúc của hình thức ba đoạn phức. Giữa phần thứ nhất và phần trio có nối tiếp còn giữa phần trio và phần tái hiện là tương phản đối chiếu.
    Các phần của hình thức ba đoạn phức trong một số tác phẩm còn được phức tạp hóa các phần bằng nhiều phương pháp sáng tạo khác nhau.
    * Phức tạp hóa những phần đầu và phần cuối.
    Phần đầu và phần cuối được viết ở hình thức sonat.
    Phần đầu và cuối viết ở hình thức ba đoạn phức.
    Phần đầu và phần cuối viết ở hình thức biến tấu.
    * Phức tạp hóa phần giữa.
    Phức tạp hóa bắng cách tăng cường thành phần các đoạn.




    (còn nữa ) Đang trong quá trình hoàn thiện nốt cả nhà cố đợi chút nha hihihi mình sẽ cập nhập thêm vào các phần lý thuyết này các ví dụ và thêm chút lý thuyết vào cả nhà tạm thời đọc hộ mình thế này nhé thành thật xin lỗi cả nhà

  5. 20 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới NhatMinh cho bài viết hữu ích này:


  6. #13
    PTTH

    Ngày tham gia
    09-08-2010
    Đang ở
    Viet Nam
    Bài viết
    33
    Thanks
    47
    Được THANKS 93 lần
    Mình gửi một bài phân tích tác phẩm âm nhạc bạn xem dùm nhé!

    PHẦN MỞ ĐẦU
    Trường phái âm nhạc cổ điển Viên hình thành nửa sau thế kỷ XVIII tại thủ đô Viên của nước Áo, kế thừa sự hưng thịnh của nền âm nhạc Ý, Pháp, Đức thế kỷ XVII - XVIII lại được ánh sáng của cuộc đại cách mạng tư sản rọi chiếu - bởi thế nó đã mở ra một trang sử mới của nghệ thuật âm nhạc. Trường phái nghệ thuật này có quan hệ chặt chẽ với cuộc cách mạng tư sản Pháp với chủ nghĩa duy lý của phái Bách khoa của thế kỷ Ánh sáng.
    Trường phái âm nhạc cổ điển Viên đã đạt được thành tựu rực rỡ trong khoảng nửa thế kỷ, cùng với những tên tuổi lớn đã đi vào lịch sử âm nhạc thế giới như Gluck, Haydn, Mozart, Beethoven,... những nhạc sĩ cổ điển Viên đã góp phần hoàn thiện những hình thức âm nhạc lớn như: Nhạc kịch, giao hưởng, tứ tấu, đặc biệt là hình thức sonata - là thể loại âm nhạc viết cho đàn phím solo hoặc 1 nhạc cụ khác solo được đệm bằng đàn phím. Ở thế kỷ trước, sonata đã được sử dụng nhưng kết cấu đơn giản nhưng Haydn, Mozart và đặc biệt là Beeethoven đã thể hiện một cách sáng tạo trong nhiều kiệt tác. Khuôn mẫu của một sonata, cùng với những nguyên tắc của hình thức sonata đã trở thành chuẩn mực của mọi thời đại, từ đó là nền tảng để các nhạc sĩ sáng tác nhiều hình thức âm nhạc lớn.
    Một trong những nhạc sĩ có công lớn góp phần hoàn thiện hình thức sonata là nhạc sĩ thiên tài người Đức Ludwig van Beethoven (1770 - 1827), là người đại diện cuối cùng - người đã hoàn thiện trường phái âm nhạc cổ điển thành Vienna, đưa trường phái âm nhạc này lên đỉnh cao chói lọi và kết thúc bằng một dấu chấm tròn chĩnh, ông cũng chính là người đặt nền móng đầu tiên cho âm nhạc lãng mạn sau này. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, ông nội và cha đều là những nhạc sĩ có tài, song với tài năng thiên bẩm và nghị lực học hỏi phi thường, Beethoven đã có những đóng góp vĩ đại vào tiến trình phát triển của âm nhạc cổ điển thế giới. Beethoven đã đem đến cho thế giới âm nhạc một phong cách mới, phong cách anh hùng ca rực lửa và tràn ngập tinh thần tranh đấu, vươn tới tự do cùng những cách tân vĩ đại. Với sự cải cách mạnh mẽ về nội dung lẫn hình thức, ở hầu hết các thể loại âm nhạc như sonata, concerto và giao hưởng, Beethoven đều để lại dấu ấn thiên tài của mình. Cả cuộc đời của ông thực sự là bản anh hùng ca của một con người có nghị lực phi thường vượt qua mọi khó khăn, thử thách và chiến thắng bệnh tật.
    Trong suốt cuộc đời hoạt động âm nhạc, Beethoven đã để lại khối lượng tác phẩm đồ sộ với rất nhiều các thể loại như: giao hưởng, xonat, các thể loại nhạc thính phòng. Cụ thể là 9 bản giao hưởng, 32 sonata cho piano, 10 sonata cho violon, 5 côngxectô cho piano, 1 côngxectô cho violon, 16 tứ tấu đàn dây, vở nhạc kịch “Fiđeliô”, nhiều tác phẩm nhạc sân khấu như “Ecmông”, “Prômêtê” và rất nhiều các tác phẩm cho thanh nhạc và các loại nhạc cụ.
    Beethoven đặc biệt chú ý đến thể loại sonata cho piano, ông viết tất cả 32 bản và có nhiều sáng tạo trong lĩnh vực này. Beethoven đã làm rõ phần triển khai cơ cấu các chủ đề, phân tích và tổng hợp các nét đấu tranh kịch tính, mạnh mẽ để tạo nên phần trung tâm của tác phẩm. Beethoven còn sáng tạo ra phần Coda (phần kết) với nhiệm vụ là tổng kết tác phẩm bằng những nét chấm phá đầy rõ nét. Sonata là một cơ cấu, trong đó chứa đựng nhiều chủ đề, hình tượng âm nhạc tương phản, được tận dụng tạo kịch tính. Mỗi tác phẩm có thể có 3 hoặc 4 chương, trong đó chương 1 thường viết ở hình thức sonata allegro; chương 2 là chương chậm andante; chương 3 là chương menuet (sau này Beethoven thay bằng chương Scherzo); chương 4 là sonata hoặc rondo sonata. Trong các tác phẩm sonata cho piano của Beeethoven, ông đã vận dụng rất hiệu quả các hình thức âm nhạc đặc biệt là hình thức ba đoạn phức được ông sử dụng trong chương 3 của một số tác phẩm.
    Nhằm phục vụ cho môn học Phân tích tác phẩm âm nhạc với nội dung tìm hiểu về hình thức ba đoạn phức, cùng với niềm yêu thích đối với âm nhạc của Beethoven, tôi đã chọn tìm hiểu và phân tích chương 3 trong tác phẩm sonata cho piano số 7 của nhạc sĩ thiên tài Beethoven.
    Bản sonata piano số 7 của Beethoven là một trong số nhiều tác phẩm tiêu biểu của ông được viết ở hình thức sonata 4 chương trong đó chương 3 là chương Minuetto hình thức ba đoạn phức, tác phẩm này được viết ở giai đoạn đầu thời kỳ cổ điển, là một khúc nhạc trầm lắng xen lẫn với những xung đột kịch tính căng thẳng, nó được thể hiện trong cấu trúc, hoà thanh và cả giai điệu. Trong âm nhạc của Beeethoven, hình thức ba đoạn phức đã đạt tới đỉnh cao, có thể trở thành một tác phẩm độc lập với khả năng biểu đạt cao.
    Hình thức ba đoạn phức là hình thức của tác phẩm âm nhạc được cấu tạo bằng ba phần: Phần thứ nhất là phần trình bày có hình thức nhỏ nhất là hai đoạn hoặc ba đoạn đơn; Phần thứ hai là phần phát triển; Phần thứ ba là phần tái hiện; Phần thứ hai phải tương phản với phần thứ nhất và phần thứ ba.
    Hình thức ba đoạn phức có nhiều dạng song đều có cấu trúc ba phần riêng biệt A B A.
    - Phần thứ nhất - phần trình bày (Phần A): phần này thường có hình thức hai hoặc ba đoạn đơn, trình bày những nhân tố chủ đạo tạo nên nội dung âm nhạc của tác phẩm như âm hình chủ đề, hoà thanh, tiết tấu,... và phải có ít nhất hai chủ đề.
    - Phần thứ hai - phần phát triển (Phần B): phần này được phát triển tự do, có thể là hình thức hai, ba đoạn đơn; có thể là hình thức một đoạn phức; có thể là hình thức một đoạn chủ đề và các biến tấu; có thể chỉ là những đoạn chen (Éspisode) không thành câu, không thành đoạn.
    - Phần thứ ba - phần tái hiện (Phần A): có thể tái hiện nguyên si cả phần thứ nhất; có thể tái hiện một đoạn và phát triển them để kết; có thể chỉ tái hiện âm hình ý nhạc rồi phát triển thêm để kết.

  7. 5 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới doanquocnam.an cho bài viết hữu ích này:


  8. #14
    PTTH

    Ngày tham gia
    09-08-2010
    Đang ở
    Viet Nam
    Bài viết
    33
    Thanks
    47
    Được THANKS 93 lần
    PHẦN PHÂN TÍCH
    Chương III sonata piano số 7 của Beethoven được viết ở hình thức ba đoạn phức, nhịp 3/4, giọng D-dur có chuyển điệu sang giọng G-dur. Cấu trúc gồm 3 phần: A - B - A, có phần B là phần Trio, tính chất vũ khúc tươi vui trong đó phần thứ ba (A) được tái hiện nguyên dạng phần thứ nhất (A) để kết (phần tái hiện tĩnh):
    [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/05/clip_image001.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/05/clip_image002.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/05/clip_image003.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/05/clip_image004.gif[/IMG] Phần trình bày (Phần A) gồm 54 nhịp được viết ở giọng D-dur, hình thức 3 đoạn đơn có phần kết bổ sung (a - : b - a’ - kết bổ sung : ).
    Phần phát triển (Phần B) gồm 32 nhịp, được viết ở giọng G-dur (phần chuyển điệu), hình thức 2 đoạn đơn có tái hiện (a - a’).
    Phần tái hiện (Phần A): là phần tái hiện nguyên dạng phần trình bày (A) của tác phẩm (nhắc lại nguyên si).
    SƠ ĐỒ CẤU TRÚC CỦA TÁC PHẨM
    Phần A:
     
    [TR]
    [TD]a
    [/TD]
    [TD]b
    [/TD]
    [TD]a’
    [/TD]
    [TD]Coda
    [/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD]32n
    x (16n) x (16n)
    [/TD]
    [TD]16n
    [/TD]
    [TD]11n
    [/TD]
    [TD]11n
    [/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD]T/D-dur T/D-dur
    [/TD]
    [TD]T/D-dur
    [/TD]
    [TD]T/D-dur
    [/TD]
    [TD]T/D-dur
    [/TD]
    [/TR]

    Phần B:
     
    [TR]
    [TD]a
    [/TD]
    [TD]a’
    [/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD]16n
    y (8n) z (8n)
    [/TD]
    [TD]16n
    y (8n) z’ (8n)
    [/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD]T/G-dur D7/G-dur
    [/TD]
    [TD]T/G-dur D7/D-dur
    [/TD]
    [/TR]


    [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/05/clip_image003.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/05/clip_image002.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/05/clip_image005.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/05/clip_image002.gif[/IMG]*Phần trình bày (Phần A): Phần này mang chức năng giới thiệu điệu tính và chủ đề của chương nhạc. Gồm 54 nhịp được viết ở giọng D-dur, hình thức 3 đoạn đơn có phần kết bổ sung (Cấu trúc a - :b - a’ - kết bổ sung: ). Chủ đề 1 (đoạn a) mang tính chất tự sự, giai điệu nhẹ nhàng sâu lắng. Chủ đề 2 (đoạn b) thể hiện tính triết lý cao, giai điệu trầm hùng, kịch tính.

    • Đoạn a: (32n) bắt đầu từ ô nhịp đầu tiên đến ô nhịp thứ 16, gồm 2 câu, mỗi câu 16 nhịp, cấu trúc theo kiểu nhắc lại, hoà thanh kết ở âm chủ T (D-dur). Đoạn này giới thiệu chủ đề 1 của chương nhạc, với hoà thanh và tiết tấu bình ổn, giai điệu nhẹ nhàng êm ái mà khúc triết mang tính chất tự sự.

    + Câu 1: gồm 2 tiết nhạc (8+8).
    Tiết thứ nhất mở đầu bằng một nốt lấy đà là âm bậc V của điệu thức (nốt la) sau đó nối liền sang ô nhịp tiếp theo và sử dụng bước nhảy quãng 5 từ âm 5 lên âm 3 (nốt fa) rồi đi liền bậc về âm chủ tạo nên tuyến giai điệu liền mạch; tiết tấu sử dụng các âm nối ở đầu mỗi ô nhịp tạo cho giai điệu sự ngưng đọng. Có thể chia thành tiết nhạc thành 2 motif (4+4), mỗi motif tạo thành một làn sóng giai điệu. Giai điệu chủ yếu sử dụng các âm tự nhiên, tiết tấu bình ổn, kết hợp với bè đệm tay trái sử dụng chồng hợp âm có trường độ dài tạo cho ý nhạc sự nhẹ nhàng, êm ái. Hoà thanh bắt đầu bằng T và kết thúc ở D (A-dur) sau đó nối sang tiết thứ hai bằng hai âm liền bậc ở bè tay trái.

     
    [TR]
    [TD][/TD]
    [TD][/TD]
    [TD][/TD]
    [TD][/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD][/TD]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]motif 1
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD][/TD]
    [TD][/TD]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]motif 2
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD][/TD]
    [/TR]

  9. 3 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới doanquocnam.an cho bài viết hữu ích này:


  10. #15
    PTTH

    Ngày tham gia
    09-08-2010
    Đang ở
    Viet Nam
    Bài viết
    33
    Thanks
    47
    Được THANKS 93 lần
    Tiết thứ hai tái hiện lại tiết thứ nhất, bằng thủ pháp giữ nguyên hình tiết tấu, thay đổi độ cao, cũng sử dụng tiết tấu nối ở ô nhịp đầu tiên của tiết nhạc, giai điệu gồm các nốt đen tiến hành theo hình sóng, kết mỗi motif và kết câu là những nốt ngân dài. Ở đầu tiết nhạc (ô nhịp thứ 10) có xuất hiện nốt Rê thăng đưa giai điệu lên cao trào sau đó trở lại điệu tính chính và kết câu ở hợp âm chủ T (D-dur).
    + Câu 2: là câu nhạc nhắc lại, được nhắc lại nguyên dạng câu 1 nhằm nhấn mạnh hơn tới người nghe chủ đề của chương nhạc và tạo ấn tượng sâu đậm ban đầu đối với tác phẩm.


    • Đoạn b: (16n) bắt đầu từ ô nhịp thứ 17 đến ô nhịp thứ 32, là đoạn nhạc không phân câu, kết ở hợp âm chủ T (D-dur); trình bày chủ đề 2 của tác phẩm, đoạn nhạc này vẫn được viết ở giọng D-dur song hoàn toàn khác biệt so với chủ đề 1 được trình bày ở đoạn a do có sự thay đổi về âm hình tiết tấu, thủ pháp nghệ thuật và đặc biệt về hoà thanh xuất hiện nhiều biến âm tạo cho giai điệu sự mới lạ.

    Đoạn b bắt đầu bằng một nốt lấy đà cực trầm ở bè tay trái sau đó nhảy quãng 8 lên nốt fa rồi tiến hành giai điệu theo làn sóng ở bè trầm sau đó chuyển giai điệu qua bè tay phải với thủ pháp nghệ thuật chủ yếu là đối đáp hai bè (canon), giai điệu âm nhạc nhảy nhót qua từng cung bậc trầm bổng rộn ràng.

  11. 3 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới doanquocnam.an cho bài viết hữu ích này:


  12. #16
    PTTH

    Ngày tham gia
    09-08-2010
    Đang ở
    Viet Nam
    Bài viết
    33
    Thanks
    47
    Được THANKS 93 lần
    Âm hình tiết tấu chủ yếu là các nốt móc đơn và nốt đen ở tốc độ nhanh kết hợp sử dụng các cao độ từ thấp rồi cao dần lên tạo nên sự căng thẳng cho giai điệu. Ở làn sóng giai điệu đầu tiên, hoà thanh có sự li điệu sang Fis-dur, sau đó chuyển qua H-dur ở ô nhịp thứ 20 với sự xuất hiện của nhiều biến âm (mi thăng, la thăng, sol thăng, rê thăng). Làn sóng giai điệu được tăng dần lên thành cao trào ở ô nhịp thứ 23 khi bè trầm chuyển lên khoá Sol đi giai điệu còn bè tay phải giữ ở nốt la, lúc này hoà thanh chuyển về giọng chính D-dur. Từ ô nhịp thứ 28 đến 32, âm hình tiết tấu có thay đổi, Beethoven không sử dụng hai bè đối đáp mà sử dụng các nốt đen đi giai điệu kết hợp với kỹ thuật tremolo làm cho âm thanh như nhảy nhót, tươi vui, thoát ra khỏi sự dồn nén, bế tắc. Hoà thanh lúc này xuất hiện biến âm (la thăng) trong 1 ô nhịp rồi sau đó lại trở lại kết ở hợp âm chủ T (D-dur).
    Có thể thấy Beethoven đã sử dụng rất hiệu quả thủ pháp canon trong đoạn nhạc này, nó tạo cho người nghe cảm giác bị cuốn hút, sự dồn dập lôi cuốn lên đỉnh điểm rồi sau đó như ngưng lại trong không gian bao la ấy. Cao trào còn tiếp diễn và nối liền sang đoạn nhạc tiếp theo bằng một hợp âm Át (A-dur) ở cuối ô nhịp 31, đầu ô nhịp 32.


    • Đoạn a’: (11n) bắt đầu từ ô nhịp thứ 33 đến ô nhịp thứ 43, là đoạn nhạc không phân câu, kết ở hợp âm chủ T (D-dur); đây là đoạn nhạc tái hiện của a bằng thủ pháp nhắc lại có thay đổi và được rút gọn lại. Nếu như ở đoạn a, tác giả trình bày câu nhạc chủ đề với 16 nhịp bằng 2 tiết nhạc riêng biệt thì ở đoạn a’, câu nhạc - đoạn nhạc được rút ngắn còn 11 ô nhịp và không có sự phân chia rõ ràng, giai điệu như một làn sóng cuồn cuộn dâng lên như muốn thể hiện ý chí đấu tranh, vượt ra khỏi những rào cản xã hội, hướng tới ánh sáng cách mạng của người nhạc sĩ trong thời kỳ này.

  13. 2 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới doanquocnam.an cho bài viết hữu ích này:


  14. #17
    PTTH

    Ngày tham gia
    09-08-2010
    Đang ở
    Viet Nam
    Bài viết
    33
    Thanks
    47
    Được THANKS 93 lần
    Đoạn nhạc này nối tiếp cao trào của đoạn b, cường độ âm nhạc tăng cao ở ô nhịp thứ 35, hoà thanh xuất hiện nhiều biến âm kết hợp với những nốt âm khu cao theo hình làn sóng ở những ô nhịp tiếp theo tạo sự căng thẳng kịch tính, đưa giai điệu đi lên cao trào, có sự li điệu sang giọng G-dur ở ô nhịp thứ 35, 36, 37. Cao trào tiếp tục ở những ô nhịp 38 và 39, hoà thanh Át (A-dur) rồi sau đó làn sóng ấy giảm dần trở về với giọng điệu chính của bài và kết đoạn ở hợp âm chủ T (D-dur), nối liền sang phần coda (kết bổ sung).


    • Coda (kết bổ sung): (11n) bắt đầu từ ô nhịp thứ 44 đến ô nhịp thứ 54, đây là một câu nhạc có vai trò rất quan trọng trong tác phẩm; nó vừa mang chức năng tóm tắt lại chủ đề âm nhạc, khẳng định điệu tính của tác phẩm; vừa góp phần giải quyết cao trào một cách trọn vẹn. Ở phần trình bày, Coda có chức năng kết đoạn và dẫn dắt sang đoạn nhạc mới.

    Với cường độ giảm dần (pp), kết hợp với thủ pháp đối đáp hai bè tạo cho giai điệu sự nhẹ nhàng, êm ái và sâu lắng. Đây là một nét tiêu biểu trong âm nhạc của Beethoven, vừa triết lý vừa trữ tình.
    Từng ý nhạc có sự ngắt quãng rõ nét bởi các dấu lặng đen nhưng lại vang liền liền mạch nhờ các nốt ngân dài ở bè hoà thanh; một lần nữa Beethoven lại thể hiện tài năng của mình trong những sáng tác cổ điển, giản dị không phô trương mà vẫn thể hiện được tính triết lí, tính trữ tình trong từng giai điệu âm nhạc.

  15. 3 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới doanquocnam.an cho bài viết hữu ích này:


  16. #18
    PTTH

    Ngày tham gia
    09-08-2010
    Đang ở
    Viet Nam
    Bài viết
    33
    Thanks
    47
    Được THANKS 93 lần
    Motif 1 bắt đầu bằng một nốt lấy đà ở cuối ô nhịp thứ 43, với thủ pháp nghệ thuật rất đặc sắc - canon kết hợp với thủ pháp tổng hợp chất liệu; giai điệu nhẹ nhàng, lắng đọng, kết ở điệu tính chính T/D-dur. Motif thứ 2 nhắc lại motif 1 và có thay đổi ở phần cuối, kéo dài hơn, xuất hiện biến âm si giáng, sol thăng làm cho tính chất âm nhạc thay đổi bởi hai quãng 2t xuất phát từ âm Át (la-sib; la-sol#), không gian như trùng xuống, thể hiện sự trĩu nặng trong tâm hồn người nhạc sĩ trong một thời khắc rất ngắn, ngay sau đó giai điệu trở lại êm ái nhẹ nhàng và kết thúc một cách trọn vẹn ở hoà thanh T/D-dur.
    Tóm lại: Trong toàn bộ phần trình bày (A), Beethoven đã sử dụng rất hiệu quả thủ pháp canon trong đoạn nhạc này, nó tạo cho người nghe cảm giác bị cuốn hút, sự dồn dập lôi cuốn lên đỉnh điểm rồi sau đó như ngưng lại. Đây cũng là nét tiêu biểu trong những sáng tác của ông trong thời kỳ này, mang đậm tư tưởng của chủ nghĩa cách mạng, tư tưởng “Đấu tranh - anh hùng - chiến thắng”.

    *Phần phát triển (Phần B): Gồm 32 nhịp được viết ở giọng G-dur, hình thức 2 đoạn đơn, cấu trúc theo kiểu nhắc lại (a - a’). Ở phần này Beethoven đã sử dụng rất hiệu quả thủ pháp facture phần đệm, giai điệu ẩn kết hợp với những bước nhảy quãng rộng làm cho tính chất âm nhạc trở nên thôi thúc, dồn dập, đối lập với phần trình bày (Phần A).


    • Đoạn a: (16n) từ ô nhịp thứ 55 đến ô nhịp thứ 70 chia thành 2 câu, mỗi câu 8 ô nhịp; giai điệu ẩn đối đáp giữa hai bè, hoà thanh kết ở hợp âm chủ T (G-dur).

    + Câu 1: (8n) từ ô nhịp thứ 55 đến ô nhịp thứ 62, hoà thanh kết ở T (G-dur), gồm 2 tiết nhạc (4+4).

     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]motif 1
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
    Tiết 1 (4n): Từ ô nhịp 55 đến ô nhịp thứ 58, được cấu thành bởi 2 motif. Bắt đầu bằng nốt Rê lấy đà ở âm khu thấp sau đó dùng bước nhảy quãng 4 lên nốt Sol.

  17. 3 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới doanquocnam.an cho bài viết hữu ích này:


  18. #19
    PTTH

    Ngày tham gia
    09-08-2010
    Đang ở
    Viet Nam
    Bài viết
    33
    Thanks
    47
    Được THANKS 93 lần
    Motif 1 sử dụng thủ pháp mô phỏng quãng 8 chuyển giai điệu lên bè cao rồi chuyển xuống bè thấp với những bước tiến bình ổn; phần đệm sử dụng hình tiết tấu chủ đạo là chùm ba móc đơn rải hợp âm và được lặp lại toàn bộ tiết nhạc; giai điệu ẩn, đối đáp giữa hai bè.
    Motif thứ 2 giai điệu chuyển xuống bè thấp và sử dụng những bước tiến bình ổn trên nền hoà thanh, tiết tấu chùm ba móc đơn ở phần đệm khiến cho ta cảm thấy như cuốn vào một điệu nhảy sôi động, tính chất âm nhạc trở nên vui vẻ lạ thường. Hoà thanh chủ yếu sử dụng các âm thuộc hợp âm chủ và hợp âm Át của điệu thức, bắt đầu bằng T và kết thúc ở D7 (D7/G-dur).

     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]motif 1
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]motif 2
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
    Tiết 2 (4n) Từ ô nhịp 59 đến ô nhịp thứ 62, là tiết phát triển, gồm 2 motif nhỏ. Sử dụng chất liệu của tiết 1 bằng thủ pháp giữ nguyên hình tiết tấu, thay đổi độ cao. Vẫn sử dụng âm hình chùm ba móc đơn ở phần đệm, motif 1 bắt đầu bằng nốt Rê lấy đà ở âm khu thấp sau đó dùng bước nhảy quãng 7 lên nốt Đô, hoà thanh Át (D7/G-dur). Ở motif thứ 2, bè giai điệu tiến hành bình ổn trên nền phần đệm sử dụng hình tiết tấu chủ đạo là chùm ba móc đơn rải hợp âm, hoà thanh kết ở T (G-dur).[IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image001.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image002.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image002.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image002.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image003.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image003.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image003.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image004.gif[/IMG]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]T
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]D7
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
    [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image005.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image003.gif[/IMG]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]V
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]’
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]57
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]62
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
    [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image007.jpg[/IMG]+ Câu 2: (8n) từ ô nhịp thứ 63 đến ô nhịp thứ 70, gồm 2 tiết nhạc (4+4), hoà thanh kết ở D7/G-dur.
    Tiết 1 (Từ ô nhịp 63 đến 66), phát triển từ tiết nhạc thứ nhất của câu 1, sử dụng thủ pháp giữ nguyên hình tiết tấu thay đổi độ cao, có thể chia thành 2 motif nhỏ. Motif thứ nhất bắt đầu bằng nốt lấy đà ở bè trầm sau đó dùng bước nhảy quãng 8 (Si1 - Si), giai điệu đối đáp trên nền bè trì tục, hoà thanh có sự li điệu sang giọng H-dur bởi sự xuất hiện của nốt rê thăng ở phần đệm.
    Motif thứ 2 phát triển motif thứ nhất bằng thủ pháp mô phỏng quãng 4 (Si1 - Mi), hoà thanh có sự li điệu sang E-dur.
    [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image003.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image004.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image008.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image009.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image010.gif[/IMG]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]motif 2
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]motif 1
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
    [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image004.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image004.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image008.gif[/IMG]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]62
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
    [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image012.jpg[/IMG]Có thể thấy việc sử dụng hai motif gần giống nhau trong cùng một tiết nhạc, kết hợp với giai điệu tăng dần lên âm khu cao đã đưa tính chất âm nhạc lên cao trào ở một thời khắc rất ngắn.
    Tiết thứ 2 (Từ ô nhịp 67 đến 70), tiết nhạc này không sử dụng phần đệm trì tục mà dùng chồng hợp âm kéo dài làm nền hoà thanh; ở ô nhịp 67 - 68 xuất hiện nốt đô thăng, hoà thanh có sự li điệu sang D-dur (hợp âm A7 là Át của D-dur) sau đó trở về T/D-dur ở ô nhịp 69, cuối cùng dẫn về hợp âm Át của G-dur (D7). Đây là tiết nhạc hoàn toàn khác biệt so với các tiết, các câu trong đoạn nhạc. Giai điệu âm nhạc đang ẩn hiện trong hai bè đối đáp bỗng dưng được phô diễn như một làn sóng nhưng không làm dịu đi sự căng thẳng mà lại cuốn người nghe vào một cao trào mới. Nó như sự giằng co của ý chí, sự phân vân khi chọn lựa giữa hai con đường và rồi như tìm thấy ánh sáng chân lý, giai điệu lại trở lại nhộn nhịp ở đoạn nhạc tiếp theo.

     
    [TR]
    [TD][/TD]
    [TD][/TD]
    [TD][/TD]
    [TD][/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD][/TD]
    [TD="colspan: 2"][/TD]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]V
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD][/TD]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]67
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD][/TD]
    [/TR]


     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]D7/G-dur
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]D-dur
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]A7/D-dur
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
    [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image014.jpg[/IMG]


    • Đoạn a’: (16n) từ ô nhịp thứ 71 đến ô nhịp thứ 86 chia thành 2 câu, mỗi câu 8 ô nhịp; cấu trúc theo kiểu nhắc lại. Đây là đoạn nhạc phát triển từ đoạn a bằng thủ pháp nhắc lại có thay đổi. Vẫn sử dụng thủ pháp facture phần đệm, giai điệu ẩn đối đáp giữa hai bè, hoà thanh kết ở hợp âm Át của D-dur (D7/D-dur).

    + Câu 1 (8n) từ ô nhịp 71 đến ô nhịp 78, nhắc lại nguyên dạng câu 1 của đoạn a, hoà thanh kết ở T (G-dur).

     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]T
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]T
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]72
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]77
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]67
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]V
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]V
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
    [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image016.jpg[/IMG]
    + Câu 2 (8n) từ ô nhịp 79 đến ô nhịp 86, có thể chia thành 2 tiết nhạc (4+4); đây là câu phát triển từ câu 2 của đoạn a bằng thủ pháp nhắc lại có thay đổi, hoà thanh kết ở hợp âm Át của D-dur (D7/D-dur).
    Tiết 1 là tiết nhắc lại nguyên dạng tiết 1 - câu 2 của đoạn a.

     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]’
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]D7/D-dur
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]D7/D-dur
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
     
    [TR]
    [TD]
     
    [TR]
    [TD]82
    [/TD]
    [/TR]
    [/TD]
    [/TR]
    [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/NghiaVD/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/10/clip_image018.jpg[/IMG]
    Tiết 2 (4n) từ ô nhịp 83 đến 86. Giai điệu lúc này chuyển xuống bè trầm còn bè cao sử dụng chùm ba móc đơn rải hợp âm. Hoà thanh xuất hiện nốt đô thăng ở cuối ô nhịp 82 dẫn sang ô nhịp 83, hướng về hợp âm A7 (D7/D-dur) dẫn dắt quay trở về điệu tính chính của tác phẩm, tái hiện nguyên dạng phần A.

    *Phần tái hiện (Phần A): là phần tái hiện nguyên dạng phần trình bày (A) của tác phẩm (tái hiện tĩnh), được nhắc lại nguyên si phần trình bày với 54 nhịp được viết ở giọng D-dur, hình thức 3 đoạn đơn có phần kết bổ sung (a- b - a’ - kết bổ sung). Lúc này phần Coda mang chức năng khẳng định điệu tính chính của tác phẩm, giải quyết cao trào một cách trọn vẹn.
    Với cấu trúc nhắc lại, một lần nữa chủ đề âm nhạc của tác phẩm lại được khắc hoạ rõ nét hơn, khẳng định lại điệu tính chính của tác phẩm. Có thể thấy rằng, âm nhạc của Beethoven đơn giản nhưng không khô khan, trữ tình mà triết lý bởi ông đã đề cao vai trò của âm nhạc chủ điệu và đặc biệt chú ý đến sức biểu cảm của giai điệu.

  19. 2 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới doanquocnam.an cho bài viết hữu ích này:


  20. #20
    PTTH

    Ngày tham gia
    09-08-2010
    Đang ở
    Viet Nam
    Bài viết
    33
    Thanks
    47
    Được THANKS 93 lần
    KẾT LUẬN
    Chương III sonata piano số 7 là một trong những tác phẩm tiêu biểu viết ở hình thức ba đoạn phức được Beethoven ứng dụng hiệu quả trong các tác phẩm sonata của ông. Với cấu trúc đầy đủ ba phần, có sử dụng kết bổ sung tạo ấn tượng mạnh mẽ cho chủ đề âm nhạc; tác phẩm với giai điệu đẹp đẽ như một bản hùng ca về tinh thần lạc quan và niềm tin vào ngày mai huy hoàng.
    Thông qua tác phẩm đã chứng tỏ khả năng sáng tác tài tình của Beethoven trong việc vận dụng một cách sáng tạo các thủ pháp pháp triển như canon, facture phần đệm; thủ pháp nhắc lại, giữ nguyên hình tiết tấu thay đổi độ cao, thủ pháp mô phỏng... kết hợp với việc sử dụng linh hoạt các âm hình tiết tấu thuận - nghịch; giai điệu ẩn, đối đáp giữa hai bè, sử dụng các bước nhảy quãng rộng; có sự chuyển điệu, li điệu nhưng vẫn kết thúc trọn vẹn ở điệu tính ban đầu.
    Chương III sonata piano số 7 không chỉ có giá trị về mặt kỹ thuật mà còn rất sinh động, phong phú về mặt thẩm mĩ, thể hiện sức biểu cảm tuyệt vời của cây đàn piano. Beethoven đã khẳng định được tài năng phi thường của mình trong việc thể hiện thế giới nội tâm con người, thể hiện được khuynh hướng chính trị của thời đại và nội dung tư tưởng âm nhạc của trường phái âm nhạc cổ điển Viên, chương III tác phẩm sonata piano số 7 chỉ là một trong số rất nhiều bản nhạc mang đậm dấu ấn chủ đề “Đấu tranh - anh hùng - chiến thắng”.
    Tác phẩm đã khẳng định được vị trí của nó, đưa hình thức ba đoạn phức trở thành một tác phẩm độc lập có sức biểu cảm mãnh liệt của giai điệu, tiết tấu, hoà thanh và chủ đề âm nhạc. Với vai trò cách tân nền âm nhạc thế giới, Beethoven đã đặt xây những nền móng chắc chắn cho biết bao thế hệ nhạc sĩ sau này sáng tạo nên những tác phẩm âm nhạc tuyệt vời.
    Cả cuộc đời của Beethoven là quá trình học tập, sáng tác không mệt mỏi và chiến đấu vượt qua số phận, qua những đắng cay thử thách của cuộc đời. Beethoven tuy không còn nữa nhưng với những người yêu nhạc cổ điển thì âm nhạc của ông cũng như cuộc đời ông mãi mãi là tấm gương sáng chói về nghị lực phi thường, sức sáng tạo vô bờ và niềm tin yêu cuộc sống. Xin cảm ơn người nhạc sĩ thiên tài./

  21. 4 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới doanquocnam.an cho bài viết hữu ích này:


Trang 2 của 4 Đầu tiênĐầu tiên 1234 CuốiCuối

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •