Forum Home Your IP: 54.198.23.251

Kết quả 1 đến 9 của 9

Chủ đề: Dân ca Việt Nam và gìn giữ văn hóa

  1. #1
    ViAnhEm.com Supporter
    LongSad's Avatar
    Ngày tham gia
    02-05-2011
    Đang ở
    Yên Bái
    Bài viết
    1,183
    Thanks
    7,141
    Được THANKS 8,134 lần

    Dân ca Việt Nam và gìn giữ văn hóa

    Dân ca Việt Nam
    Tiến sĩ Trần Quang Hải hiện đang làm việc tại Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (National Center for Scientific Research) của nước Pháp với chức vụ nghiên cứu gia về dân tộc nhạc học (ethnomusicologist) chuyên về nhạc Việt Nam và nhạc Á châu, đặc biệt về giọng hát.

    Dân ca Việt Nam rất là phong phú. Tất cả những bài ca do dân quê sáng tác và không thuộc nhạc triều đình, nhạc thính phòng, nhạc tôn giáo thì được xếp vào loại dân ca.

    Xứ Việt Nam với gần 80 triệu người Việt và 53 sắc tộc khác nhau thừa hưởng một truyền thống dân ca đa diện.

    Định nghĩa danh từ dân ca, theo tôi, là những bài ca không biết ai là tác giả, được truyền miệng từ đời này sang đời khác, dính liền với đời sống hàng ngày của người dân quê, từ bài hát ru con, sang các bài hát trẻ em lúc vui chơi, đến các loại hát lúc làm việc, hát đối đáp lúc lễ hội thường niên.

    Dân ca lại mang một màu sắc địa phương đặc biệt, tùy theo phong tục, ngôn ngữ, giọng nói, và âm nhạc tính từng vùng mà khác đi đôi chút. Nhưng nhìn chung, vẫn là bài hát thoát thai từ lòng dân quê với tính chất mộc mạc, giản dị của nó.

    Dân ca Việt Nam được trình bày theo trình tự một đời người, nghĩa là bắt đầu bằng các bài hát ru em khi em bé bắt đầu chào đời, đến khi đứa bé lớn lên, trưởng thành và chết đi, sẽ có những bài hát liên hệ đến từng giai đoạn của một đời người.

    Tôi xin bàn về các bài hát ru em và các bài hát nghe trong lúc trẻ em vui chơi, nô đùa. Chúng ta thường nghe lúc còn ấu thơ, được chị, mẹ hay bà ngoại hoặc bà nội ru cho ngủ. Loại hát này được gọi là hát ru (miền Bắc), ru con (miền Trung), hay hát đưa em, ầu ơ ví dầu (miền Nam). Âm giai dùng trong loại hát ru em được thay đổi tùy theo vùng. Ở miền Bắc, hát ru dựa vào thang âm ngũ cung (do-ré-fa-sol-la-do). Miền Trung sử dụng âm giai tứ cung (do-fa-sol-sib-do), và miền Nam thì chọn âm giai ngũ cung (do-mib-fa-la-do). Người mẹ thường bày tỏ nỗi lòng của mình, hay than van số phận hẩm hiu của mình qua bài ầu ơ ví dầu. Lời ca thường lấy trong ca dao và thể thơ là lục bát.

    Ầu ơ.. Gió đưa bụi chuối sau hè

    Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ

    Con thơ tay ẩm tay bồng

    Tay dắt mẹ chồng đầu đội thúng bông .

    Đến khi đứa trẻ lớn lên, trong lúc chơi giỡn thường hay hát những bài mà đa số các giai điệu đều dựa trên thang âm tam cung (do-fa-sol). Chẳng hạn, khi chơi ú tìm, các trẻ em để ngón tay trỏ của mình vào trong lòng bàn tay của một em trong bọn. Một đứa trẻ hát:

    Chi chi chành chành

    Cái đanh thổi lửa

    Con ngựa chết chương

    Ba vương thượng hạ

    Ba cạ đi tìm

    Ú tim oà ập.

    Khi nói tới tiếng "ập" thì bàn tay nắm được ngón tay người nào thì người đó nhắm mắt đếm để cho những người khác chạy đi trốn.

    Ngoài ra còn có những trò chơi khác như đánh trõng, táng u, đánh dũa, hoặc là oánh tù tì (từ chữ Anh là one, two, three, nghĩa là một, hai, ba) giúp cho trẻ em Việt Nam giải trí trong khi nhàn rỗi, ngoài giờ học hỏi ở nhà trường.




    Hò từ chữ HÔ mà ra, có nghĩa là làm cho giọng mình manh hơn. Do đó, Hò thường đi đôi với việc làm nặng như kéo gỗ, chèo thuyền, đập đá. Nhưng hò cũng có thể hát lúc nghỉ ngơi, lúc hội hè, lúc đám tang như hò đưa linh, và có khi dính liền với một vùng nào đó như hò Nghệ An, hò Thanh Hóa, hò Sông Mã, hò Đồng Tháp.

    Có ba loại Hò chánh:

    Hò trong lúc làm việc, tiết điệu ăn khớp với động tác, và thường dùng những chữ như dô ta, rố khoan, hụ là khoan,vv...

    Hò trong lúc nghỉ xả hơi, thường là hò đối giữa trai gái có tính cách đùa giỡn, chọc ghẹo hay tỏ tình.

    Hò trong lúc lễ hội, thường là hò đối đáp để tranh giải.

    Hò làm việc thường hò đông người với nhau. Một người hò trước và tất cả phụ họa theo sau. Người hò chánh gọi là hò cái và những người phụ họa gọi là hò con. Hò chia làm hai phần: lớp trống hay vế kể thì do một người hát, còn lớp mái hay vế xô thì do toàn thể phụ họa.

    Ở miền Nam, hò thường nghe trên sông, hay lúc làm việc ngoài ruộng. Mỗi tỉnh, mỗi vùng có những loại hò đặc biệt. Do đó có tên gọi như hò Bến Tre, hò Cần Thơ, hò Đồng Tháp.

    Ở tỉnh Bến Tre, có thể có loại hò như sau:

    Hò ớ ơ....

    Xứ nào vui cho bằng xứ Cù Lao, ớ ơ...

    Hò ớ ơ.....

    Tiếng muỗi kêu như ống sáo thổi

    Bông mọc như hàng rào sương lý, ớ ơ...

    Hoặc xuyên qua câu hò, chúng ta có thể biết người hò thuộc địa phương nào như:

    Hò, ớ ơ...

    Ghe anh nhỏ mũi trắng lườn

    Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em, ớ ơ...

    Hò miền Nam gồm có hò ba lý xuất xứ từ bài Bá Lý Hề của cải lương rất được thông dụng giữa các ca sĩ chuyên nghiệp. Hò theo điệu ai oán dùng để kể chuyện. A li hò lờ xuất hiện khoảng 50 năm nay thôi, dùng thể thơ lục bát. Hò lô tô, hò cấy, vv... Các loại hò thường được ứng khẩu tùy hứng, nhạc thì chỉ có một giai điệu duy nhứt, hay theo một thang âm đặc biệt miền Nam (do-mib-fa-sol-la-do).

    Miền Trung là nơi tập trung của nhiều loại hò và nhiều giai điệu hơn hai miền Bắc và Nam. Ngoài loại hò làm việc, hò đối, còn có hò đưa đám ma. Ở Thanh Hóa có hò sông Mã được chia làm năm loại hò tùy theo giai đoạn: hò rời bến, hò đò ngược, hò đò xuôi, hò mắc cạn, hò cập bến, với các đoạn kể, xô nhịp nhàng theo nhịp một, nhịp hai.

    Trong khi chèo thuyền, chúng ta còn được nghe các loại hò mái xấp, hò mái nhì, hò mái đẩy. Có giả thuyết cho rằng mái có nghĩa là mái chèo, và còn có giả thuyết khác nữa cho rằng mái là đàn bà đối với trống là đàn ông. Còn xấp có nghĩa là mau hơn, nhì có nghĩa là đôi, là phải hát hai lần, còn đẩy có nghĩa là làm cho thuyền đi tới. Ở vùng Thừa Thiên, Quảng Trị còn nghe hò mái ba nghĩa là phải hát ba lần.

    Các loại hò làm việc như hò đạp nước, hò tát nước, hò khiêng nước, hò xay lúa, hò giã gạo, hò giã đậu, hò giã vôi, hò mài dừa,vv...

    Khi leo giốc, thì có hò leo dốc. Khi đập đá thì có hò nện hay hò hụi. Tiết tấu rất nhanh, và theo nhịp đập đá. Người kể hát một đoạn, thì toàn thể hát "hụ là khoan" để làm tăng sức mạnh khi làm việc.

    Ở miền Bắc, hò đẩy xe, hò kéo gỗ rất được phổ thông. Một người hát một câu thì cả đám hát rố khoan, rố khoan rố khuầy hay hố khoan trong điệu bắt cái hố khoan hay bắt cá hò khoan do các người chài lưới hát. Ngoài ra, chúng ta còn tìm thấy điệu hò giã vôi và hò dứt chỉ ở miền Bắc nữa.

    Hầu hết các điệu hò ở Việt Nam đều dùng thể thơ lục bát với thể thức thêm những chữ không có nghĩa vào như "là hụ là khoan, rố khoan rố khuầy",vv... Với nghệ thuật ngắt câu khác nhau tùy theo từng điệu hò hoàn toàn khác biệt và phong phú qua tài sáng tác của các người dân quê, kho tàng dân ca do đó ngày càng to lớn hơn và xuyên qua các lời ca trong điệu hò, chúng ta thấy một nền văn chương bình dân phản ảnh trung thực ngôn ngữ của tiếng nói Việt Nam.




    Miền Nam có rất nhiều điệu hò và lý. Những bài nào không thuộc vào hò thì là lý. Có Lý chim khuyên, Lý bông lựu, Lý chuồn chuồn, Lý cây chanh, Lý chè hương, Lý bỏ bìa, Lý con khỉ đột, Lý ngựa ô, Lý quạ kêu.

    Lời ca rất mộc mạc, chỉ hai câu thơ lục bát trong bài Lý chim khuyên như:

    Chim khuyên ăn trái nhãn lồng

    Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi

    mà được hát thành:

    Chim khuyên (quầy a) ăn trái (quây a)

    Nhãn lồng (à), nhãn lồng , ớ con bạn mình ơi !

    Lia thia (quầy a) quen chậu (quây a)

    Vợ chồng (à), vợ chồng, ớ con bạn quen hơi.

    Miền Trung có thể nói là trung tâm của các điệu lý và hò. Lý có nghĩa là hát của giai cấp dân quê (do chữ lý làng mà ra), so với Ca Huế thuộc giai cấp vua chúa, quan liêu trí thức. Tất cả điệu lý được thoát thai từ các bài hát chèo, ca Huế, hát tuồng, và hát cải lương.

    Điệu lý giao duyên bốn mùa hay lý vọng phu được hát theo điệu Nam ai Trung chuyển sang Ai Oán Nam khi xuống tới miền Nam và trở thành lý bốn mùa hay lý ru con. Thể thơ được dùng là thất ngôn:

    Thí dụ như:

    Giãi sông Ngân mây rầu rầu chuyển

    Một bước đường trời biển chia hai

    Hỡi nàng nàng ơi !

    Anh dặn một lời xưa nhớ đừng quên.

    Từ đó các nhà nho mới đem vào Ca Huế và đổi tên lại thành lý giao duyên 12 tháng như:

    Đầu tháng giêng mãn thiên xuân sắc

    Ai nấy vui mưng thiếp bặt mắt trông

    Qua tháng hai bông hoa nhài ướm nở

    Thiếp luống trông chàng vừa trở gió đông, vv...

    Hát giao duyên với loại thơ thất ngôn cũng được dùng trong hát chèo.. Đến khi bài Lý giao duyên được sử dụng với thể thơ lục bát qua hai câu thơ:

    Ai đem con sáo sang sông

    Để cho con sáo sổ lồng bay xa.

    Thì lại được đổi lại là Lý con sáo. Điệu Lý con sáo rất được quãng bá ở ba miền Bắc, Trung, Nam. Mỗi miền với thang âm đặc thù đã tạo ra ba điệu lý khác nhau: Lý con sáo Bắc, Lý con sáo Trung, và Lý con sáo Nam. Ngoài ra, chúng ta còn biết thêm một điệu Lý con sáo nữa là Lý con sáo Quảng.

    Ở Thừa Thiên, khi hát bài lý con sáo, thay vì hát đoạn "ơi người ơi", lại hát "tang tình tang". Bài lý con sáo được gọi là Lý tình tang,và khi hát bài 10 thương thì được đổi thành lý mười thương.

    Các điệu lý đều dựa trên thể thơ lục bát trên âm giai tứ cung nhu bài lý ba cô, lý lượn, hoặc âm giai ngũ cung như bài lý bắt bướm hay lý cây đa.

    Nghệ thuật sử dụng thể thơ lục bát của người Việt rất tài tình. Qua hai bài Lý con sáo Trung và Nam, chúng ta nhận thấy dân tộc Việt Nam đưa vào những tiếng đệm bằng cách lập lại những chữ trong câu chẳng hạn nhu "í a, ố tang tình tang", vv mà làm cho nhạc điệu trở nên phong phú vô cùng.

    Dân ca do đó đi sâu vào lòng dân và đôi khi còn ảnh hưởng rất mạnh vào nhạc thính phòng Ca Huế hay Đàn Tài Tử miền Nam hoặc vào các điệu hát Chèo, Cải lương.


    Hát hội

    Hát hội là loại hát đối giữa trai gái tùy hứng ca hát đối đáp thi tài cao thấp trong những dịp lễ đầu xuân hay thu, hoặc khi đêm trăng thanh gió mát sau một ngày làm việc mệt nhọc ngoài đồng.

    Hát hội có nhiều loại: hát trống quân, hát quan họ, cò lả ở vùng Bắc Ninh, hát đúm ở Hải Dương, hát phường vải ở Nghệ Tĩnh, hát ghẹo ở Thanh Hóa, hát xoan ở Phú Thọ,vv..

    Hát hội hay hát đối đều mang những đặc điểm chung như sau:

    Người hát, làng xã, phải đối nhau chẳng hạn nhóm nam ca sĩ đối lại với nhóm nữ ca sĩ, và thuộc làng xã khác nhau

    Hầu hết đều là tình ca để đưa đến hôn nhân.

    Đặc tính đoàn thể rất được nhấn mạnh, như trong quan họ có tục kết bạn và phải thuộc vào gia đình quan họ. Truyền thống này được thấy ở hát ghẹo ở Thanh Hóa, và hát xoan ở Phú Thọ có tục lệ "nước nghĩa".

    Thi đua là một trong những đặc tính quan trọng. Trong một cuộc hát đối, các người hát thi đua về trí nhớ, lời ca, óc nhạy bén, phải tùy cơ ứng biến, khi gặp khó khăn, tài sáng tác tùy hứng, và kỹ thuật ca hát phải có trình độ cao. Do đó, các làng xã xứ ta thường hay tổ chức hát lấy giải.

    Đặc tính bán chuyên nghiệp. Người hát quan họ phải thuộc một số bài căn bản, phải luyện tập thường xuyên. Do đó mới có tục lệ ngủ bọn, nghĩa là các người hát cùng chung một nhóm thường tựu hợp ở nhà của một người trong bọn, ăn ngủ tại đó để có thì giờ học tập với nhau và tập hát gọi là bẽ giọng

    Hát hội xảy ra trong một phạm vi địa lý nhỏ hẹp, nhứt là ở Bắc Ninh, Thanh Hóa, Phú Thọ miền Bắc xứ Việt Nam mà thôi.

    Mỗi cuộc thi hát như thế thường chia làm ba hay bốn giai đoạn:

    Hát mời ăn trầu trong trống quân

    Hát giọng lề lối trong quan họ

    Hát dạo, hát chào, hát mừng, hát hỏi trong hát phường vải

    Hát dạo, hát mừng, hát thăm trong hát ghẹo

    Sau khi hát mở đầu thì đến phần hát thi. Phần này, bắt đầu các bài hát khó vì phải sáng tác tại chỗ, như hát trả lời câu đố trong trống quân, giọng sỗng, giọng vặt trong quan họ,hát đố, hát đối trong phường vải, và hát đối, hát đố, hát xe kết trong hát ghẹo. Chẳng hạn như trong bài hát trả lời câu đố trong trống quân, bên gái ra câu đố thì bên trai phải giải cho trúng và đố lại. Bên nào không đối được thì kể như thua. Loại hát này được đệm bằng một nhạc khí đặc biệt là cây trống quân hay thổ coå. Một cây mây dài bốn, năm thước căng vòng cầu bắt ngang một cái hố được đào ngay điểm giữa cây mây. Một người hát đánh vào cây mây để đệm, tạo âm thanh giống như tiếng trống.

    Cuộc thi hát tiếp tục sang giai đoạn ba với các bài hát khen tặng trong trống quân, hát mời, hát xe kết trong phường vải, và giọng hãm, giọng huỳnh trong quan họ.

    Sau cùng là hát tiễn như trong phường vải, hát giã bạn trong quan họ, hát thề, hát dặn, hát tiễn trong hát ghẹo.

    Hò, lý, hát hội với Trống quân, Quan Họ, Hát phường vải, Hát ghẹo, Hát xoan, cò lả,vv... rất gần với chúng ta qua lời ca đơn giản, diễn đạt tất cả hình ảnh sống động của xã hội nông thôn Việt Nam và mỗi người hát là một nhà thơ.


    HÁT VÈ / NÓI VÈ

    Vè là một bài văn kể một chuyện đặc biệt xảy ra và ngụ ý khen chê. Bài văn làm theo thể thơ bốn chữ, năm chữ, lục bát, hay song thất lục bát hoặc các thể thơ biến thể. Hát những câu vè thường lấy giọng đọc lên, không có đệm trên, đệm giữa, hay đệm dưới như các lối hát dân ca khác, nhưng dựa trên nhịp 2/4. Ở miền Nam, những câu vè về trái cây, các loại cá, các thứ bánh, vv... ngoài lối vè kể chuyện. Các câu vè thường bắt đầu bằng sáu chữ

    Nghe vẻ nghe ve Nghe vè..........

    Thí dụ vè trái cây:

    Nghe vẻ nghe ve

    Nghe vè trái cây

    Dây ở trên mây

    Là trái đậu rồng

    Có vợ có chồng

    Là trái đu đủ

    Chặt ra nhiều mủ

    Là trái mít ướt

    Hình tựa gà xước

    Vốn thiệt trái thơm

    Cái đầu chơm bơm

    Đúng là bắp nâú

    Hìnhthù xâu xấu

    Trái cà dái dê

    Ngứa mà gãi mê

    Là trái mắt mèo v.v.

    Hát vè để tiêu khiển trong lúc làm việc, hát lúc nhàn rỗi một mình. Hát vè không có nhạc, nhưng có tiết điệu. Gần đây ở Việt Nam, có nhiều nhóm nhạc trẻ đã chuyển hát vè thành nhạc Rap rất được ưa thích.

    Dân ca Việt Nam rất phong phú, đa dạng, dính liền với bài ca hơn là với dàn nhạc, và nhạc khí. Dân ca đi liền với tiếng hát ru, đồng dao, trò chơi trẻ em, đến các điệu hò, lý, các điệu hát trong khi làm việc, trong các lễ hội tạo cơ hội cho thế hệ gặp nhau qua các loại hát giao duyên, qua tục "nước nghĩa", "kết bạn", "ngủ bọn ". Mức sáng tác bài bản mới vượt qua những thể loại nhạc cung đình, nhạc bác học, nhạc thính phòng và đưa vào trong văn chương bình dân những đóng góp đáng kể (hát quan họ, hát phường vải). Phần nhiều chỉ có tùy hứng lời trên một điệu nhạc (hát trống quân, cò lả). Chỉ có hát quan họ là vừa sáng tác lời lẫn nhạc. Hiện có trên 700 làn điệu khác nhau trong truyền thống hát quan họ. Hiểu được dân ca Việt Nam sẽ mang lại một niềm tự hào cho chính mình, tạo một sự hãnh diện trong lòng khi xứ mình có một nền văn học dân gian phong phú. Ngoài dân tộc Việt hay Kinh, chúng ta còn có 53 sắc tộc anh em sống rải rác trên khắp lãnh thổ Việt Nam với hàng trăm thể loại dân ca, nhạc khí hoàn toàn khác với dân tộc Việt. Đó là đề tài nghiên cứu trong tương lai.
    Name:LongSad™
    Yahoo: nguyenlong_evn
    Sdt: 0988.12.85.86

  2. 13 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới LongSad cho bài viết hữu ích này:


  3. #2
    PTTH
    Trần_Cường's Avatar
    Ngày tham gia
    05-03-2012
    Đang ở
    Sài Gòn Quận 4
    Bài viết
    75
    Thanks
    51
    Được THANKS 177 lần
    Ồ hay quá phong phú thật xin bạn up lên mediafire share anh em học hỏi thêm nhen thank trước bạn
    Bạn muốn up cái gì lên mediafire vậy?
    Nếu còn tiếp tục spam câu bài, bạn sẽ bị mất quyền đăng nhập tại diễn đàn.
    Trần Cường
    Mail: cuongprovui@gmail.com
    Nhóm : https://www.facebook.com/groups/ripsamplevip/

    Tel: 0907860662

  4. #3
    Tiểu học
    Ngày tham gia
    05-01-2012
    Đang ở
    ho chi minh
    Bài viết
    1
    Thanks
    0
    Được THANKS 0 lần
    Rất hay, có tí hình và audio minh họa thì tốt, thanks các bạn

  5. #4
    PTTH
    huadangkhoa's Avatar
    Ngày tham gia
    15-12-2010
    Đang ở
    Cà Mau
    Bài viết
    65
    Thanks
    4
    Được THANKS 220 lần
    Hay quá yêu văn hóa việt nam quá đi ah

  6. #5
    PTTH

    Ngày tham gia
    31-01-2012
    Đang ở
    Ở đâu cũng được
    Bài viết
    33
    Thanks
    16
    Được THANKS 17 lần
    Văn hóa Việt Nam có từ rất lâu đời , không hay sao được ?

  7. #6
    THCS
    Ngày tham gia
    17-07-2012
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    5
    Thanks
    0
    Được THANKS 4 lần
    Mình thích dân ca Việt vì các cụ đã thoát ra được cái bóng khổng lồ của Trung Quốc. đầy sáng tạo..

  8. #7
    THCS
    Ngày tham gia
    10-10-2012
    Đang ở
    TPHCM
    Bài viết
    4
    Thanks
    3
    Thanked 2 Times in 1 Post
    Văn hóa sẽ tạo nên sức mạnh dân tộc mà. dân ca việt nam là một niềm tự hào

  9. #8
    THCS
    Ngày tham gia
    20-02-2013
    Đang ở
    vietnam
    Bài viết
    4
    Thanks
    0
    Được THANKS 3 lần
    Văn hóa sẽ tạo nên sức mạnh dân tộc mà. dân ca việt nam là một niềm tự hào
    Có chung một ý kiến

  10. #9
    THCS
    Ngày tham gia
    07-05-2013
    Đang ở
    bac lieu
    Bài viết
    3
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    bài viết rất hữu ích cho những ai chưa biết về dân ca việt nam

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •