Forum Home Your IP: 54.158.52.166

Kết quả 1 đến 9 của 9

Chủ đề: Lịch sử Điện ảnh Việt Nam

  1. #1
    Manager
    Sonkeyboard's Avatar
    Ngày tham gia
    18-03-2010
    Đang ở
    TP Vinh - Nghệ An
    Bài viết
    4,026
    Thanks
    14,943
    Được THANKS 24,942 lần

    Lịch sử Điện ảnh Việt Nam

    Điện ảnh Việt Nam





    Điện ảnh du nhập vào Việt Nam từ cuối thập niên 1890, đến năm 1923 xuất hiện bộ phim đầu tiên do người Pháp và người Việt cùng thực hiện. Từ năm 1925 đã xuất hiện những hãng phim Việt Nam, có những bộ phim Việt Nam hợp tác với nước ngoài. Đến thời kỳ chiến tranh Việt Nam, nền điện ảnh Cách mạng ở miền Bắc với những diễn viên như Trà Giang, Thế Anh, đạo diễn Hải Ninh đã có Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Nổi gió, Em bé Hà Nội... Miền Nam với Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, các đạo diễn Lê Hoàng Hoa, Lê Dân, Lê Mộng Hoàng đã thực hiện Chân trời tím, Loan mắt nhung, Người tình không chân dung...

    Sau năm 1975, những đạo diễn Lê Hoàng Hoa, Nguyễn Hống Sến tiếp tục thực hiện những bộ phim như Ván bài lật ngửa, Cánh đồng hoang thu hút được nhiều khán giả, giành được giải thưởng trong những liên hoan phim quốc tế. Vượt qua giai đoạn khủng hoảng của thập niên 1990, gần đây điện ảnh Việt Nam lấy lại được khán giả với những bộ phim ăn khách như Gái nhảy, Những cô gái chân dài... Một số bộ phim Việt Nam đã được khán giả nước ngoài biết tới, trong đó nhiều phim của các đạo diễn Việt kiều. Mùi đu đủ xanh của đạo diễn người Pháp gốc Việt Trần Anh Hùng đã được đề cử giải Oscar cho phim ngoại ngữ hay nhất năm 1994.

    Giai đoạn khởi đầu

    Điện ảnh du nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Ngày 28 tháng 12 năm 1895, nền điện ảnh được khai sinh với buổi chiếu tại quán Grand Café ở Paris. Muộn nhất cũng chỉ 3 năm sau đó, điện ảnh đã du nhập vào Việt Nam. Những buổi chiếu đầu tiên được thực hiện ở các khách sạn, nhà hàng lớn nhân những ngày lễ quan trọng hoặc sự kiện chính trị nào đó. Khán giả điện ảnh hầu hết là các quan chức, viên chức, chủ công ty công nghiệp và doanh nghiệp, đơn vị quân đội Pháp chiếm đóng thuộc địa. Dựa theo một số tài liệu, báo chí, hồi ký thì thỉnh thoảng có một vài buổi chiếu phim ở nơi công cộng cho dân bản xứ mua vé vào xem như các ngày hội, chợ phiên, quay sổ xố. Từ 1898, trên báo chí Việt Nam đã đăng quảng cáo những buổi chiếu phim bán vé tại một số địa điểm công cộng. Rồi các rạp chiếu bóng được xây dựng. Tại Hà Nội, rạp Pathé bắt đầu hoạt động từ 1920, rạp Tonkinois từ 1921... Thời ấy, người ta gọi những buổi trình chiếu phim là buổi trình diễn "trò chớp bóng"


    Phố Hàng Quạt, Hà Nội - nơi có tạp Tonkinois từ năm 1921

    Để thiết lập độc quyền khai thác mạng lưới chiếu bóng, năm 1923 người Pháp thành lập hãng Phim và Chiếu bóng Đông Dương (Indochine Films et Cinéma, IFEC) và năm 1930 Công ty Chiếu bóng Đông Dương (Societé des cinéthéâtre d’Indochine). Một số Hoa kiều cũng bỏ vốn xây dựng những rạp nhỏ, chủ yếu chiếu phim thuê của người Pháp và một số ít phim của Hồng Kông, Trung Quốc. Đến năm 1927, tại Việt Nam có 33 rạp chiếu bóng ở các đô thị như Hà Nội 4 rạp, Hải Phòng 2 rạp, Huế 2 rạp, Chợ Lớn 4 rạp, Sài Gòn 4 rạp, Cần Thơ 2 rạp...

    Những năm trước 1930, mỗi rạp chỉ lắp đặt một máy chiếu phim. Khi hết một cuộn phim thì các đèn trong rạp bật sáng và người thợ máy thay cuộn phim mới để chiếu tiếp. Màn ảnh được làm bằng những mảnh vải trắng may lại, xung quanh viền vải xanh thẫm hoặc đen. Khán giả ngồi trên những ghế tựa hoặc ghế băng có dựa lưng bằng gỗ. Sàn phòng chiếu bằng phẳng và màn hình được đặt trên phía cao khiến khán giả bị mỏi cổ khi xem phim. Từ nửa cuối thập niên 1930, một số rạp mới có ban công và sàn được làm dốc, các hàng ghế được bố trí lệch nhau. Các rạp cũng được trang bị quạt máy và phân cấp thành hai loại: sang và bình dân. Thời kỳ này khán giả bắt đầu được xem phim nói nhưng chỉ giới trí thức, sinh viên, học sinh trung học mới nghe được tiếng Pháp và đọc được phụ đề Pháp ngữ.

    Những phim đầu tiên

    Những phim đầu tiên được sản xuất ở Việt Nam là do người Pháp thực hiện. Đầu tiên là những đoạn phim được quay để sử dụng trong những cuốn phim giới thiệu sinh hoạt ở các thuộc địa Pháp do hãng Pathé phát hành từ năm 1897. Tiếp đó là những phim tài liệu khai thác phong cảnh (Phong cảnh tại Kinh đô Huế), phong tục, hội hè, đình đám (Hội Kiếp bạc, Đám ma bà Thiếu Hoàng) hoặc các nhân vật thời thượng trong xã hội đương thời (Bé Tý – Cô gái Bắc Kỳ).

    Trong thời gian từ 1916 tới 1918, đoàn Điện ảnh quân đội Pháp đã quay 20 phim tài liệu về kinh tế và du lịch, tổ chức các buổi chiếu phim ở các vùng nông thôn, thành thị, biên giới, tuyên truyền cho sức mạnh của người Pháp, vận động dân thuộc địa đi lính sang Pháp, mua công trái đóng góp cho nước Pháp tiến hành chiến tranh.

    Phim truyện đầu tiên

    Bộ phim truyện đầu tiên là Kim Vân Kiều do Công ty Chiếu bóng Đông Dương thực hiện năm 1923. Tác phẩm của Nguyễn Du được đưa lên màn bạc với diễn viên là các đào kép tuồng của ban Quảng Lạc, Hà Nội. Phim dài 1.500m với phần ngoại cảnh được quay ở các vùng phụ cận Hà Nội. Kim Vân Kiều mắc phải nhiều sai lầm về nội dung, phần diễn xuất cũng chẳng có gì khác hơn hát trên sân khấu, đào kép thì ăn mặc và cử chỉ như hát tuồng.

    Phim Kim Vân Kiều công chiếu lần đầu với một số khán giả hạn chế và bị phần lớn báo chí khi đó chỉ trích. Tờ Hữu Thanh 15 tháng 3 năm 1924, viết: "Hồi 4 giờ rưỡi hôm 14 Mars (tháng 3) này, Hội Indochine Film có đem chớp thử Kim Vân Kiều tại nhà Cinéma Palace phố Tràng Tiền. Hôm ấy là hôm chớp thử nên chỉ mới có mấy nhà văn chương và mấy nhà báo Tây, Nam đến xem mà thôi". Ngày 15 tháng 3 năm 1924, tờ Trung Văn: "Số là lần này là lần thứ nhất mới có một bản chớp bóng dùng một sự tích An Nam, dùng con hát An Nam đóng, lấy những nơi thắng cảnh tự nhiên của An Nam làm cảnh trí, là lần đầu. Cái nghề chớp bóng xưa nay người An Nam chúng ta chưa từng biết; các phương pháp, các lề lối đều là phải tin cấp ở nhà chuyên môn Tây, người ta bảo thế nào là phải thì cứ thế mà làm. Những lẽ mình bàn góp vào cho hợp với sự tích, hợp với phong tục An Nam ta, thì cũng phải để tuỳ nhà chuyên môn người ta lượng nghĩ mà châm chước mà thôi, chứ mình không bắt buộc được người ta phải theo ý mình."

    Sau thất bại của Kim Vân Kiều, năm 1925 IFEC tiếp tục thực hiện hai cuốn phim hài do một diễn viên người Hoa lai là Tou Fou đóng vai chính. Hai phim này tiếp tục thất bại. Không nản lòng, IFEC cố gắng làm một bộ phim dài về Việt Nam. Đó là phim Huyền thoại bà Đế[1] năm 1927 dài 1.000m. Phim do Paul Numier viết kịch bản dựa theo một câu chuyện dân gian. Vai chính do Georges Spesct, môt cô gái Pháp lai đảm nhiệm. Các diễn viên Việt chỉ đóng vai phụ. Bộ phim này tiếp tục thất bại, vai chính bị chê là lố lắng, nội dụng nhiều sai lạc ngớ ngẩn.

    Bộ phim đầu tiên của người Việt
    Năm 1925, ông Nguyễn Lan Hương, chủ tiệm ảnh Hương Ký ở Hà Nội, mời một chuyên viên người Pháp về dạy cho mình rồi thực hiện bộ phim hài Ðồng tiền kẽm tậu được ngựa. Bộ phim dài 200m, phỏng theo tác phẩm Perrette et Le Pot de Lait (Cô gái và bình sữa), truyện ngụ ngôn của La Fontaine. Phim thứ hai của Hương Ký cũng là phim hài với tựa phim là Cả Lố. Nhưng phim đang quay dở dang lại phải bỏ, vì có sự bất đồng giữa Hương Ký và diễn viên đóng phim. Sau đó, Hương Ký còn quay phim tài liệu Ninh Lăng dài 2.000m về đám tang vua Khải Ðịnh. Tiếp đó là phim Tấn tôn đức Bảo Đại 800m về lễ tấn phong Hoàng đế Bảo Ðại. Tuy được hoan nghênh, nhưng vì không có thị trường nên không đủ bù đắp vào số vốn đã bỏ ra thực hiện phim. Phim chiếu ở Hà Nội được 27 ngày, doanh thu khoảng 5.000 đồng tiền Ðông Dương, trong khi chi phí sản xuất gần 30.000 đồng.

    Nhờ gây được tiếng vang, Nguyễn Lan Hương được Tỉnh trưởng tỉnh Vân Nam, Trung Quốc đặt hàng làm hai phim phóng sự quay tại Trung Quốc. Một trong hai phim là Ðám tang tướng Ðường Kế Nghiêu, năm 1929. Nhưng sau đó không thấy ông Nguyễn Lan Hương làm phim tiếp, mà trở về với nghề nhiếp ảnh của mình. Có những ý kiến cho rằng lý do là vì tác động của người Pháp, họ không muốn một hãng phim Việt Nam thành công trong khi họ liên tục gặp thất bại. Hãng phim Hương Ký biến mất sau vài năm tồn tại. Từ đó, hoạt động sản xuất phim của người Việt Nam ngưng hoạt động suốt 7 năm liền từ 1930 đến 1936.

    Phim nói
    Những năm cuối thập niên 1930, Việt Nam hình thành một lớp trí thức mới, tiếp thu văn hóa Pháp. Nhiều phong trào văn học, sân khấu, âm nhạc nở rộ. Từ cuối 1936, nhiều nhóm thanh niên có ý định làm phim, bắt đầu cho những phim nói đầu tiên của Việt Nam.

    An Nam Nghệ sĩ đoàn do một số thanh niên yêu điện ảnh thành lập. Họ tự học điện ảnh qua sách vở đặt mua từ bên Pháp. Ðầu năm 1937, một thương gia người Hoa giàu có ở Hải Phòng tên Trịnh Lâm Ký đã tiếp xúc với An Nam Nghệ sĩ đoàn, bàn việc đưa một đoàn diễn viên Việt Nam sang Hồng Kông quay phim. Nhưng việc không thành vì xảy ra cuộc chiến Trung - Nhật. An Nam Nghệ sỹ đoàn tiếp tục vận động những người giàu có ở Hà Nội bỏ tiền ra làm phim, nhưng không có kết quả.

    Cuối tháng 11 năm 1937, An Nam Nghệ sĩ đoàn ký được một hơp đồng làm phim với Công ty điện ảnh Nam Trung hoa (The South China Motion Pictures Co.) để sản xuất bộ phim truyện dài Cánh đồng ma. Kịch bản phim Cánh đồng ma do Ðàm Quang Thiện viết, bút danh trên phim là Nguyễn Văn Nam. Ðàm Quang Thiện vốn là một sinh viên Y khoa, muốn qua kịch bản chứng minh thuyết di truyền trong y học, nhưng Công ty điện ảnh Nam Trung Hoa cùng đạo diễn người Trung Quốc Trần Phì đã tự ý sửa nội dung kịch bản, biến nó thành một phim trinh thám với nhiều máu và đàn bà. Các nghệ sĩ Việt Nam phản đối nhưng không kết quả, phải diễn theo những nội dung không có từ trước trong kịch bản. Sau 13 ngày, Cánh đồng ma hoàn thành giai đoạn quay vào ngày 30 tháng 1 năm 1938. Sau Cánh đồng ma, 6 diễn viên người Việt ở lại Hồng Kông để quay tiếp Trận phong ba, một phim Hồng Kông nhưng nói về một người Việt. Trận phong ba được gấp rút hoàn thành và công chiếu trước Cánh đồng ma nhưng không thành công, bị khán giả la ó. Sau Trận phong ba một tháng, tháng 7 năm 1938, Cánh đồng ma ra mắt và cũng bị dư luận và báo chí chê trách.

    Sau Cánh đồng ma, các nghệ sĩ trong An Nam Nghệ sĩ đoàn còn tham gia hai phim truyện nói tiếng Pháp do Hãng Franco Film thực hiện tại Việt Nam rồi không tiếp tục hoạt động nữa vì không có ai dám bỏ vốn ra làm phim tiếp. An Nam Nghệ sĩ đoàn chỉ tồn tại trong 2 năm, họ được ghi nhận như những người Việt Nam đầu tiên hợp tác làm phim với nước ngoài.

    Cuối năm 1937, chủ hãng đĩa hát Asia là Nguyễn Văn Ðinh đã cho ra đời Hãng phim Châu Á (Asia Film) tại Sài Gòn. Ông bỏ tiền mua máy móc thiết bị từ bên Pháp về để sản xuất phim có tiếng cỡ 35 mm đầu tiên tại Việt Nam. Ðầu năm 1938, hãng Asia Film khởi quay bộ phim đen trắng 35 mm Trọn với tình có độ dài 90 phút. Ðạo diễn là Nguyễn Văn Danh, tức Tám Danh xuất thân từ nghệ sỹ sân khấu cải lương. Kịch bản, quay phim và dựng phim do giám đốc hãng là Nguyễn Văn Ðinh thực hiện. Phim được quay và làm hậu kỳ hoàn toàn tại Việt Nam do các chuyên viên kỹ thuật Việt Nam đảm nhiệm mà lực lượng nồng cốt là các kỹ thuật viên của hãng đĩa Asia. Tuy không thành công như mong đợi, nhưng khi tung ra chiếu vào đầu năm 1939, Trọn với tình cũng thu hút được người xem vì đây là một bộ phim nói 35mm đầu tiên tại Việt Nam, do người Việt Nam sản xuất.

    Sau Trọn với tình, Nguyễn Văn Ðinh còn cho ra tiếp ba phim nữa do mình tự viết kịch bản, tự đạo diễn, tự quay phim, dựng phim. Ðó là Cô Nga dạo thị thành (1939), Khúc khải hoàn và Toét sợ ma (1940). Nghệ thuật và kỹ thuật của cả 3 phim đều không hơn gì Trọn với tình. Từ năm 1940, hãng phim Châu Á ngừng hoạt động cho đến những năm 1960, mới hoạt động trở lại tại Sài Gòn.

    Năm 1939, một hãng phim mới ra đời nữa tại Sài Gòn là hãng Việt Nam Phim với bộ phim truyện ra mắt có tên là Một buổi chiều trên sông Cửu Long do Nguyễn Tấn Giầu viết kịch bản, đạo diễn, quay phim. Phim được quay 16 mm, có độ dài 90 phút với âm thanh ngoài phim. Nhạc, lời, tiếng động được thu vào đĩa, khi chiếu được bật lên cùng hình ảnh. Một buổi chiều trên sông Cửu Long chỉ ra mắt được vài buổi ở Sài gòn và Mỹ Tho. Cuối năm 1939, Nguyễn Tấn Giầu lại bắt tay làm tiếp phim truyện hài Lão thầy pháp râu đỏ và phim tài liệu Ðèo Ngang tức cảnh[2]. Cả hai phim này cũng chết yểu như Một buổi chiều trên sông Cửu Long.

    Sang năm 1940, quân Nhật tiến vào Đông Dương, người Việt Nam không còn ai đứng ra làm phim. Các rạp chỉ còn chiếu chủ yếu phim Nhật và các nước đồng minh của Nhật.

    Giai đoạn 1945-1954

    Ngày 2 tháng 9 năm 1945, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập. Tuy kinh tế Việt Nam khi đó kiệt quệ và vừa trải qua nạn đói năm 1945, Chính phủ lâm thời Việt Nam vẫn xây dựng bộ phận Điện ảnh và Nhiếp ảnh thuộc Bộ Thông tin - Tuyên truyền. Hoạt động chủ yếu của bộ phận này là tổ chức đoàn chiếu phim lưu động chiếu ở những nơi công cộng và lập toa xe Điện ảnh đi chiếu phim dọc Quốc lộ 1 từ Bắc vào Nam với một máy chiếu Débri 16mm và hai bộ phim tài liệu về phái đoàn Phạm Văn Đồng tại Pháp do Việt kiều gửi về. Thời gian này tại Pháp, họa sĩ, nhà quay phim Mai Trung Thứ cùng các Việt kiều khác tổ chức nhóm điện ảnh Sao Vàng, quay được nhiều phim tài liệu: Hồ Chủ Tịch tại Pháp, Hội nghị Fontainebleau, Sinh hoạt của 25.000 Việt kiều tại Pháp. Trong nước các nhà làm phim cũng ghi được những phim lịch sử như Hồ Chủ Tịch từ Pháp trở về (1946), Trận đánh tại Ô Cầu Dền (1946)...


    Nghệ sĩ Kim Xuân

    Sau khi cuộc chiến Việt - Pháp bùng nổ, một số nhà làm phim Cách mạng ở cả miền Nam và miền Bắc tiếp tục thực hiện được những phim tài liệu: Trận Mộc Hóa (1948), Trận Đông Khê (1950), Chiến Thắng Tây Bắc (1952)... Ngày 15 tháng 3 năm 1952, trên chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh 147/SL thành lập Doanh nghiệp Quốc gia Chiếu bóng và Chụp ảnh Việt Nam. Những hoạt động của các nhà làm phim điện ảnh Cách mạng thời kỳ này chỉ dừng lại ở thể loại phim tài liệu ngắn, như Giữ làng giữ nước quay năm 1953, Điện Biên Phủ năm 1954.

    Tại các thành thị nơi vẫn thuộc quyền kiểm soát của Pháp, mạng lưới các rạp chiếu bóng do người Pháp và Hoa kiều làm chủ tiếp tục chiếu các phim của Pháp và các nước đồng minh sản xuất. Điện ảnh vẫn được khán giả yêu thích nhưng không có bộ phim Việt Nam nào được thực hiện.

    Đến năm 1953, Công ty Kim Chung Điện ảnh sản xuất phim Kiếp hoa. Kịch bản phim do bầu Long, trưởng đoàn cải lương Kim Chung viết, nghệ sĩ Kim Xuân trong vai Ngọc Thủy. Đạo diễn phim là người Hồng Kông do ông Long mời về. Tiền đầu tư cũng là từ doanh thu của đoàn Kim Chung. Kiếp hoa giành được thành công, không chỉ chiếu ở Hà Nội, phim còn vào Sài Gòn rồi các tỉnh miền Tây. Sự thành công về thương mại của Kiếp hoa kéo theo những tư nhân khác bỏ vốn mời đạo diễn và quay phim Hồng Kông về làm phim. Ông Hà Quang Định, chủ gánh cải lương Ái Liên, cùng vợ là Ái Liên thực hiện phim Nghệ thuật và hạnh phúc và Phạm Công - Cúc Hoa. Những diễn viên thời kỳ này đa phần xuất phát từ các đoàn hát hoặc ca sĩ như Phùng Há, Ái Liên, Kim Chung, Kim Xuân, Bích Hợp...

    Giai đoạn 1954-1975

    Hiệp định Genève năm 1954 chia Việt Nam thành Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở miền Bắc và Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam. Tại miền Bắc, với sự lãnh đạo của Đảng Lao Động Việt Nam, điện ảnh được Nhà nước cấp kinh phí sản xuất những bộ phim mang tính tuyên truyền, được gọi là điện ảnh Cách mạng. Những bộ phim Cách mạng được mang tới các liên hoan phim ở những nước xã hội chủ nghĩa và cũng đã giành được nhiều thành công. Ở miền Nam, hình thành một thị trường điện ảnh với nhiều hãng phim tư nhân. Thị trường này, có thời kỳ suy thoái, có giai đoạn phát triển mạnh mẽ đã sản xuất các bộ phim thuộc nhiều thể loại, đề tài phong phú. Nếu như ở miền Bắc năm 1959 mới xuất hiện bộ phim truyện đầu tiên thì ở miền Nam, điện ảnh đạt tới thời kỳ đỉnh cao ngay từ năm 1957 với nhiều bộ phim được sản xuất. Những đại diện của điện ảnh miền Nam tới các liên hoan phim trong khu vực cũng đã nhận được nhiều giải thưởng.


    Máy chiếu phim 35 mm đầu tiên do Liên Xô tài trợ


    [you] hãy bấm vào đây
    Tò mò quá, bấm đi chứ, không là

    LIÊN HỆ: Click vào đây để chat qua Yahoo với smartboy16187

  2. 3 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới Sonkeyboard cho bài viết hữu ích này:


  3. #2
    Manager
    Sonkeyboard's Avatar
    Ngày tham gia
    18-03-2010
    Đang ở
    TP Vinh - Nghệ An
    Bài viết
    4,026
    Thanks
    14,943
    Được THANKS 24,942 lần
    Miền Bắc

    Sau năm 1954, các nhà làm phim của miền Bắc vẫn tiếp tục với các phim tài liệu. Một vài phim tài liệu ngắn mang tính lịch sử như Hội nghị quân sự Trung Giã, Tù hàng binh dưới chế độ ta, Tiếp quản Thủ đô và các phim thời sự về sinh hoạt của tù binh Âu - Phi, trao trả tù binh ở Tuyên Quang, Việt Trì, Sầm Sơn. Năm 1955, các phim tập trung phản ánh cuộc sống thay đổi sau chiến tranh, chống di cư, chuyển quân tập kết. Từ năm 1956, phim thời sự ra đều hàng tuần. Năm 1959, bộ phim tài liệu Nước về Bắc Hưng Hải của đạo diễn Bùi Đình Hạc đã đạt huy chương vàng ở liên hoàn phim Moskva.

    Một phương thức để phổ biến điện ảnh khi đó là các buổi chiếu bóng lưu động: phim được chiếu ở một khu đất trống với một màn ảnh được dựng lên, máy chiếu được chạy nhờ máy phát điện. Nhiều đơn vị chiếu bóng được thành lập tới các vùng nông thôn và cả thành thị phục vụ khán giả.

    Năm 1956, tổ chức điện ảnh được tách riêng làm hai bộ phận: Xưởng phim Việt Nam và Quốc doanh phát hành phim và chiếu bóng Việt Nam. Cũng trong thời gian này, Cục Điện ảnh được thành lập. Năm 1957 báo Điện ảnh xuất hiện. Đến năm 1959, Trường Điện ảnh Việt Nam, Nhà máy cơ khí điện ảnh, Xưởng phim Hoạt hoạ và búp bê Việt Nam, Xưởng phim Thời sự, tài liệu Trung ương lần lượt ra đời.

    Một số hoạt động văn nghệ khác được coi như bước chuẩn bị cho phim truyện. Phan Nghiêm, từ Việt Bắc về Hà Nội đã cải biên, quay và thu thanh tại chỗ vở kịch Lòng dân bằng phim 16mm, sau đó hòa âm tại Tiệp Khắc. Đạo diễn Phạm Kỳ Nam, quay phim Trần Thịnh cùng các diễn viên Tuệ Minh, Hoà Tâm, đã dựng và quay tiểu phẩm về Võ Thị Sáu. Tiểu phẩm thứ hai dựa theo truyện ngắn Thư nhà của nhà văn Hồ Phương. Tiêu phẩm này được mang tên Người chiến sĩ (còn có tên khác là Cô lái đò bến Chanh), đạo diễn Trần Công, quay phim Khương Mễ cùng các diễn viên Phi Nga, Huy Công, Cam Ly, Khang Hy. Tiểu phẩm thứ ba có tên Nhựa sống nói về hoạt động của học sinh sinh viên nội thành thời gian thuộc quyền kiểm soát của Pháp. Đạo diễn Phạm Kỳ Nam, quay phim Thẩm Võ Hoàng. Các vai chính do Bích Vân, Trần Phương và Tự Huy đóng.

    Năm 1958, đạo diễn Mai lộc làm bộ phim Biển động. Kịch bản do soạn giả cải lương Ngọc Cung viết, nội dung về cuộc khởi nghĩa thất bại ở Hòn Khoai, Cà Mau năm 1940. Phim hoàn thành nhưng khi duyệt hòa âm thì không được thông qua. Trong cuốn sách Điện ảnh Việt Nam thuở ban đầu đạo diễn Mai Lộc viết lại: "Phim không được thông qua vì nội dung phim không phù hợp với đường lối chính trị lúc bấy giờ, là đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, mà phim lại mô tả một cuộc nổi dậy thất bại tại miền Nam. Vì thế bộ phim truyện đầu tay của chúng tôi đã thất bại...". Một số kịch bản phim truyện khác cũng đã được viết, nhưng chưa kịch bản nào được dựng thành phim.

    Giai đoạn 1959-1965

    Năm 1959 được coi là điểm mốc với sự ra đời của bộ phim truyện điện ảnh Cách mạng đầu tiên: Chung một dòng sông.

    Từ năm 1958 một bộ phim truyện đã được triển khai. Kịch bản đầu tiên mang tiên Tình không giới tuyến của tác giả Cao Đình Báu viết từ đầu năm 1957, nói về mối tình bị chia cắt của hai nhân vật Hoài và Việt sống trên đôi bờ sông Bến Hải. Ban đầu Tình không giới tuyến chỉ là một cốt truyện sơ lược. Sau khi được góp ý kiến, Cao Đình Báu và Đào Xuân Tùng đã sửa chữa và hoàn chỉnh kịch bản đổi tên thành Chung một dòng sông.


    Chung một dòng sông (1959)


    Vợ chồng A Phủ (1961)

    Cốt truyện Chung một dòng sông đơn giản, nhưng đề cập đến vấn đề thời sự khi đó. Theo hiệp định Genève, sông Bến Hải trở thành giới tuyến tạm thời phân chia hai miền Nam Bắc. Hai nhân vật chính Vận và Hoài yêu nhau nhưng bị dòng sông chia cắt. Đạo diễn phim là Nguyễn Hồng Nghi và Phạm Hiếu Dân (tức Phạm Kỳ Nam), quay phim Nguyễn Đắc, họa sĩ thiết kế Đào Đức. Chung một dòng sông được công chiếu ngày 20 tháng 7 năm 1959 đã giành được nhiều thiện cảm của khán giả.

    Năm 1960[3] cũng là năm đánh dấu của phim hoạt hình với bộ phim đầu tiên Đáng đời thằng cáo. Tiếp đó đến các phim Chiếc vòng bạc, Chú thỏ đi học... được sản xuất.

    Sau Chung một dòng sông, các nhà làm phim Cách mạng tiếp tục thực hiện các bộ phim truyện khác. Đề tài lớn nhất trong giai đoạn này là cuộc chiến tranh Việt - Pháp vừa kết thúc. Từ năm 1959 đến 1964, có 18 bộ phim thì 11 nói về đề tài trên: Vợ chồng A Phủ (1961), Lửa trung tuyến (1961), Chim vành khuyên (1962), Chị Tư Hậu (1963), Kim Đồng (1964)... Ngoài ra, đề tài xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc cũng được đề cập đến trong các phim: Khói Trắng (1963), Cô gái nông trường (1960), Vườn Cam (1960)... Cho tới tận 1964 thì Chung một dòng sông vẫn là phim duy nhất về đề tài chiến tranh Việt Nam.

    Trong những năm đầu, ngoài Phạm Kỳ Nam từng học đạo diễn ở Học viện Điện ảnh Pháp (Institut des hautes études cinématographiques), các nghệ sĩ còn lại chỉ tự học, làm quen với điện ảnh bằng những phim tài liệu trước đó. Đến năm 1962 mới xuất hiện lớp nghệ sĩ thuộc khoá đạo diễn đầu tiên của trường Điện ảnh Việt Nam. Một khó khăn khác là sự yếu kém của kịch bản, lý do văn học Cách mạng thời kỳ này cũng rất yếu, mởi chủ yếu là truyện ngắn, rất ít truyện dài hay tiểu thuyết. Trong những phim thời kỳ đó, Vợ chồng A Phủ làm từ truyện ngắn cùng tên của nhà văn Tô Hoài, Chị Tư Hậu, Chim vành khuyên được xem là thành công.

    Về diễn viên, ngoài những nghệ sĩ sân khấu chuyển sang điện ảnh như Phi Nga, Danh Tấn, Tuệ Minh, Trung Tín, Văn Phức, Mai Châu, Thu An... giai đoạn này đã xuất hiện nhưng gương mặt mới sẽ là trụ cột của điện ảnh Cách mạng giai đoạn sau: Trà Giang, Lâm Tới, Đức Hoàn...

    Giai đoạn 1965-1975

    Từ cuối năm 1964, Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc, chiến tranh Việt Nam bước vào thời kỳ khốc liệt nhất. Điện ảnh miền Bắc với nhiệm vụ tuyên truyền bắt đầu quay lại đề tài về cuộc chiến đang diễn ra. Giai đoạn này đội ngũ làm phim đã đa dạng và trưởng thành hơn. Ngoài lớp nghệ sĩ thứ nhất, xuất hiện lớp nghệ sĩ thứ hai là những người được đào tạo tại trường Điện Ảnh Việt Nam khóa đầu tiên. Thế hệ nghệ sĩ thứ ba là những nhà làm phim học ở Đại học điện ảnh Moskva về nước năm 1962.

    Giai đoạn này, phim tài liệu vẫn đóng vai trò quan trọng. Một số phim đã đạt giải thưởng tại các liên hoan phim quốc tế như: Lũy thép Vĩnh Linh của đạo diễn Ngọc Quỳnh đạt huy chương vàng Liên hoan phim Moskva năm 1971, Đầu sóng ngọn gió của đạo diễn Ngọc Quỳnh, Du kích Củ Chi của đạo diễn Trần Nhu, Đường ra phía trước của đạo diễn Hồng Sến cũng thành công tại các kỳ Liên hoan phim Moskva. Những người dân quê tôi của đạo diễn Trần Văn Thủy đoạt giải Bồ Câu Bạc tại Liên hoan phim Quốc tế Leipzig năm 1970...

    Ngành phim hoạt hình cũng giành được hai giải thưởng quốc tế. Nổi trội là các phim Mèo con, Chuyện ông Gióng, Con sáo biết nói, Kăm Phạ - Nàng Ngà, Con khỉ lạc loài.


    Áp phích Vĩ tuyến 17 ngày và đêm (1972) ở Nhật Bản

    Nối gót Chung một dòng sông, năm 1965 Hãng phim truyện Việt Nam sản xuất phim Trên vĩ tuyến 17 với hai đạo diễn Lý Thái Bảo và Nhất Hiên. Phim bị đánh giá là đơn giản, không để lại dấu ấn gì. Năm 1966, hãng thực hiện phim Nổi gió dựa trên vở kịch cùng tên của tác giả Đào Hồng Cẩm. Đạo diễn bộ phim là Huy Thành với quay phim Nguyễn Đăng Bẩy. Đây là bộ phim đầu tiên của miền Bắc nói về cuộc chiến tranh và lấy bối cảnh miền Nam. Nổi gió còn giới thiệu cho khán giả hai tài năng diễn xuất là Thế Anh, trong vai Trung uý Phương và Thụy Vân, vai chị Vân.

    Năm 1972, đạo diễn Hải Ninh thực hiên bộ phim Vĩ tuyến 17 ngày và đêm. Đây là bộ phim truyện dài 2 tập đầu tiên của Việt Nam do Hãng phim truyện Việt Nam sản xuất. Vai chính Dịu trong phim do diễn viên Trà Giang thể hiện. Vĩ tuyến 17 ngày và đêm đã giành được giải của Hội đồng hoà bình Thế giới Liên hoan phim Quốc tế Moskva năm 1973. Cũng trong liên hoan phim này, Trà Giang đạt giải nữ diễn viên xuất sắc. Năm 1974, đạo diễn Hải Ninh tiếp tục có một phim đáng chú ý khác là Em bé Hà Nội. Ngoài hai diễn viên nổi tiếng là Trà Giang và Thế Anh, vai em bé Hà Nội do diễn viên Lan Hương diễn xuất. Bộ phim được xem là đã khắc họa thành công đời sống của Hà Nội trong những ngày chịu tấn công của không quân Hoa Kỳ.

    Một số bộ phim đáng chú ý khác của giai đoạn này có thể kể đến: Đến hẹn lại lên (1974) của đạo diễn Trần Vũ, Tiền tuyến gọi (1969) cùa Phạm Kỳ Nam. Ngoài những bộ phim dài, điện ảnh miền Bắc còn sản xuất các bộ phim ngắn với mục đích tuyền truyền như Cô giáo Hạnh (1967), Biển gọi (1967), Một chiến công (1968), Em Phước (1969), Bức tranh để lại (1970), Chị Nhung (1970)...

    Từ năm 1970, Liên hoan phim Việt Nam bắt đầu được tổ chức và định kỳ 2 năm một lần. Lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội, giải Bông sen vàng đã được tặng cho ba bộ phim Nổi gió, Người chiến sĩ trẻ và Nguyễn Văn Trỗi.

    Trong giai đoạn 1965 đến 1975, tổng cộng điện ảnh miền Bắc đã sản xuất 49 phim truyện.


    [you] hãy bấm vào đây
    Tò mò quá, bấm đi chứ, không là

    LIÊN HỆ: Click vào đây để chat qua Yahoo với smartboy16187

  4. 3 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới Sonkeyboard cho bài viết hữu ích này:


  5. #3
    Manager
    Sonkeyboard's Avatar
    Ngày tham gia
    18-03-2010
    Đang ở
    TP Vinh - Nghệ An
    Bài viết
    4,026
    Thanks
    14,943
    Được THANKS 24,942 lần
    Điện ảnh Thương Mại Việt Nam- Trôi Theo Dòng Lịch Sử

    Miền Nam

    Khi người Mỹ chính thức tham chiến vào chiến tranh Việt Nam, cùng với quận đội họ đã mang theo cả văn hóa Âu Mỹ và những công nghệ kỹ thuật mới vào Việt Nam. Điều này ảnh hưởng đến văn hóa nói chung trong đó có điện ảnh. Một yếu tố khác có ảnh hưởng tới điện ảnh của miền Nam thời kỳ này là sự phát triển mạnh của cải lương những năm cuối thập niên 1950, đầu thiệp niên 1960. Rất nhiều nghệ sĩ điện ảnh xuất thân từ cải lương. Từ năm 1954 tới 1975, có những giai đoạn hoàng kim, như năm 1957, các hãng phim tư nhân điện ảnh miền Nam sản xuất 37 phim một năm.


    Chúng tôi muốn sống (1956)

    Giai đoạn 1954-1960

    Năm 1955, Phòng Điện ảnh được thành lập. Đến năm 1959 Trung tâm Quốc gia Điện ảnh thuộc Nha Thông tin ra đời, với một đội ngũ những người làm phim gồm 19 đạo diễn, 13 quay phim, 5 chuyên viên thu thanh và 2 chuyên viên dựng phim. Đa số những người này được cố vấn Mỹ dạy tại chỗ hoặc đi tu nghiệp ở nước ngoài hai năm từ 1957 đến 1959. Bên cạnh đó còn mời chuyên gia của Philippines đến Sài Gòn hợp tác với một số hãng tư nhân thực hiện những phim tuyên truyền cho chế độ. Trung tâm Điện ảnh chính là nơi đào tạo những chuyên viên điện ảnh đầu tiên của miền Nam.

    Điện ảnh khi đó chủ yếu giành cho giới thành thị. Rạp chiếu bóng, mỗi ngày thường chiếu theo xuất, thứ bảy có xuất chiều, chủ nhật thêm xuất sáng. Để thu hút khán giả, các rạp thường mở nhạc các ca sĩ Paul Anka, Andy William, Elvis Presley, Patti Page... Giới trí thức thành thị khi bị ảnh hưởng bởi lối sống Pháp. Các phim tình cảm Pháp thịnh hành nhất khi đó, rồi đến những phim miền Tây của Mỹ, phim ca nhạc Ấn Độ.

    Giai đoạn 1955 đến 1958, nhiều hãng phim tư nhân được thành lập, tập trung sản xuất loại phim tâm lý xã hội, cổ tích và các đề tài gia đình. Đây là giai đoạn nở rộ phong trào làm phim cải lương, thần thoại, truyền thuyết, với nhiều bộ phim khơi gợi lòng tự hào của người Việt trong việc ủng hộ phim do người Việt làm ra. Nổi bật nhất trong phong trào làm phim này là các hãng Việt Thanh thành lập năm 1955, Văn Thế năm 1956, Tân Việt điện ảnh năm 1957 do ông Bùi Diễm làm giám đốc.

    Các hãng tư nhân sản xuất phim mạnh mẽ, giới thiệu với công chúng một thế hệ diễn viên mới như Kim Cương phim Lòng nhân đạo, Ngọc Bồ Đề; Trang Thiên Kim phim Mục liên thanh đề, Trương Chi; Lê Thị Nam phim Đồng ruộng miền Nam; Kim Lan phim Người mẹ hiền; Thu Trang phim Lục Vân Tiên; Mai Trâm phim Chúng tôi muốn sống; Khánh Ngọc phim Ràng buộc, Ánh sáng miền Nam; Xuân Dung phim Kim trai thời loạn; Kim Hoàng phim Tiền thân Đức Phật Tổ; Thiên Kim phim Huyền Trân công chúa; Túy Phượng phim Thạch Sanh Lý Thông...

    Cuối năm 1956, đạo diễn người Mỹ Joseph L. Mankiewicz tới miền Nam thực hiện phim Người mỹ trầm lặng, bộ phim chuyển thể đầu tiên từ tác phẩm cùng tên của Graham Greene. Đạo diễn Vĩnh Noãn - đạo diễn Chúng tôi muốn sống - được mời hợp tác cho bộ phim này. Nhưng bộ phim không thành công, bị nhận sự phản đối bởi chính Graham Greene. Diễn viên Laurence Oliver, người được chọn ban đầu, cũng ủng hộ nhà văn và từ chối tới Việt Nam tham gia bộ phim.

    Năm 1957 là năm điện ảnh miền Nam hoạt động mạnh nhất. Chỉ trong năm 1957, các hãng phim tư nhân đã sản xuất hơn 37 phim. Do điều kiện trong nước yếu kém về mặt kỹ thuật nên đa số những phim trắng đen, 35 mm. Nếu muốn tạo được sự chuẩn mực về kỹ thuật đều phải thâu thanh tại nước ngoài. Thành công nhất về doanh thu giai đoạn này Quan Âm Thị Kính. Một bộ phim ăn khách khác là Kiếp hoa của hãng Kim Chung với hai diễn viên Kim Chung và Kim Xuân, được xem là phim nội địa hay nhất. Diễn viên nữ số một là Kim Cương, người tham gia nhiều phim nhất những năm 1954 đến 1960.

    Dịp Giáng Sinh 1957, phim Người đẹp Bình Dương của hãng phim Mỹ Vân với chiến dịch quảng cáo rầm rộ mang đến cho công chúng ngôi sao tương lai Thẩm Thúy Hằng. Cũng năm 1957, Kiều Chinh lần đầu xuất hiện trong phim Hồi chuông Thiên Mụ của đạo diễn Lê Dân, hãng Tân Việt.

    Nhưng đến cuối năm 1957, hoạt động sản xuất phim chững lại. Giai đoạn 1958 đến 1960 là giai đoạn bị kịch của điện ảnh miền Nam, đỉnh cao là năm 1960. Con số 39 nhà sản xuất phim chỉ còn 9 hãng hoạt động cầm chừng, mỗi năm sản xuất một hai phim, thiếu vốn, phim lỗ, chính sách thuế... Báo chí cũng không còn ủng hộ điện ảnh trong nước. Các phim nhập khẩu thao túng thị trường

    Giai đoạn 1960-1970

    Trong giai đoạn khó khăn, vẫn có những người đam mê điện ảnh. Như nhóm Bọn Trẻ của Nguyễn Long và Hoàng Anh Tuấn đã cùng bạn bè góp vốn làm phim. Nguyễn Long với bộ phim dài 100 phút Mưa lạnh hoàng hôn (1961) giới thiệu gương mặt diễn viên Mai Ly. Hoàng Anh Tuấn với phim Trời không muốn sáng. Để cạnh tranh lại với phim Ấn Độ, Hồng Kông... Thái Thúc Nha điện ảnh hóa cải lương với những phim Oan ơi ông Địa (1961), vai chính là Thẩm Thúy Hằng hay Bẽ bàng (1961) với Kim Cương. Nhưng do yếu kém về kỹ thuật và được thực hiện vội vàng, hai phim này cũng bị báo giới chê bai.

    Khoảng 1962, 1963 điện ảnh miền Nam bắt đầu hồi sinh trở lại. Nhiều hãng phim mới xuất hiện cùng các dự án làm phim. Thời kỳ này các phim bắt đầu sử dụng kỹ thuât đơn màu. Hãng phim Alpha tiên phong với Mưa rừng (1962) có Kim Cương cùng Kiều Chinh. Sau đó là bộ phim tốn kém Đôi mắt người xưa của hãng Liêm Phim, được thực hiện trong ba năm từ 1962 đến 1964. Đây cũng là phim đầu tiên Thanh Nga tham gia, tuy nhiên khánh giả lại biết tới cô với Hai chuyến xe hoa được trình chiếu trước vào 1963.

    Đạo diễn Lê Mộng Hoàng cùng kịch sĩ Năm Châu thực hiện Tơ tình do hãng Mỹ Vân sản xuất năm 1963. Tơ tình có sự tham gia của Thẩm Thúy Hằng, La Thoại Tân, Mai Ly và nữ ca sĩ Thanh Thúy. Đây là một bộ phim nặng về nhạc, trong phim Thẩm Thúy Hằng trong vai ca sĩ Lệ Trinh. Sau thành công lớn về mặt doanh thu của Tơ tình, hãng Mỹ Vân làm tiếp phim Bóng người đi (1964) do Năm Châu đạo diễn. Phim này Thẩm Thúy Hằng diễn xuất cùng Thành Đuợc, Út Bạch Lan.

    Năm 1969, Liên Ảnh Công Ty thực hiện bộ bộ màu màn ảnh rộng Từ Sài Gòn đến Điện Biên Phủ. Về mặt kỹ thuật đây là bộ phim có những tiến bộ vượt bậc. Ngoài những diên viên điện ảnh tên tuổi Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Ðoàn Châu, phim Từ Sài Gòn đến Điện Biên Phủ còn qui tụ các diện viên và soạn giả cải lương như Lê Khanh, Thanh Cao, Ngọc Ðiệp, Tư Hề, Văn Lượng. Cũng năm 1969, một bộ phim khác đạt kỷ lúc bán vé là Chiều kỷ niệm. Đây là bộ phim đầu tay của nhóm Thẩm Thúy Hằng với đạo diễn là Lê Mộng Hoàng, lời thoại do nghệ sĩ Năm Châu viết. Phim đen trắng, 35 mm dài 1 giờ 45 phút. Ngoài Thẩm Thúy Hằng, Hùng Cường, phim cũng có sự tham gia của các tên tuổi cải lương Năm Châu, Phùng Há, Bảy Ngọc, Thanh Tú... Chỉ trong tuần lễ công chiếu đầu tiên tại rạp Rex, Chiều kỷ niệm đã thu về 1 triệu đồng. Sau vài tuần, con số doanh thu lên tới 10 triệu.

    Vào những năm này, để có nhạc cảnh và ca khúc trên phim, các hãng thường đặt các nhạc sĩ như Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Huỳnh Anh viết. Giọng ca do các ca sĩ như Thái Thanh, Hoài Trung... thể hiện để diễn viên xuất hiện trên phim nhép miệng.

    Nhưng phim khác đáng chú ý trong giai đoạn này có thể kể đến: Loạn, Yêu (1964), Dang dở (1965), Giã từ bóng tối (1969), Trai thời loạn (1969)... Ngoài Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Thanh Nga, Kim Cương, điện ảnh còn ghi nhân những tên tuổi Kim Vui, Mộng Tuyền, Thảo Sương, Kim Xuân, Thanh Lan, Thiên Trang, Ngọc Minh... Đạo diễn sung sức nhất thời kỳ này là Lê Mông Hoàng. Năm 1966, tại Đại hội điện ảnh Á Châu lần thứ 13, nữ diễn viên Xuân Dung đã được trao tặng giải thưởng nữ Diễn viên Xuất sắc nhất với vai diễn trong phim Đôi mắt người xưa do hãng Liêm Phim sản xuất. Đây là giải thưởng quốc tế lớn đầu tiên của các diễn viên điện ảnh miền Nam.


    [you] hãy bấm vào đây
    Tò mò quá, bấm đi chứ, không là

    LIÊN HỆ: Click vào đây để chat qua Yahoo với smartboy16187

  6. 2 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới Sonkeyboard cho bài viết hữu ích này:


  7. #4
    Manager
    Sonkeyboard's Avatar
    Ngày tham gia
    18-03-2010
    Đang ở
    TP Vinh - Nghệ An
    Bài viết
    4,026
    Thanks
    14,943
    Được THANKS 24,942 lần
    Giai đoạn 1970-1975

    Cuối thập niên 1960 ở miền Nam, trong khi cải lương ngày càng sa sút thì điện ảnh lại phát triển mạnh mẽ, bước vào thời kỳ hoàng kim. Với hơn 30 hãng phim hoạt động, kinh doanh điện ảnh thực sự có lãi. Số lượng phim tăng lên nhanh chóng: năm 1970 có 6 phim, năm 1971 có 24 phim và đỉnh cao là năm 1972 với 29 phim. Các hãng phim đã nhìn xa trông rộng, biết tìm đối tác, hợp tác cùng tác nước trong khu vưc để sản xuất. Nếu như trước đây, các hãng phim muốn nhập phim nước ngoài thì phải từ mình sản xuất một phim trong một năm, thì từ năm 1969, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cho phép nhập phim tự do. Tuy thế việc làm phim trong nước với nhiều dự án vấn phát triển mạnh mẽ.

    Ngoài các diễn viên cải lương, điện ảnh còn chứng kiến sự lấn sân của các diên viên kịch, ca sĩ như: Bạch Tuyết với những phim Như hạt mưa sa, Như giọt sương khuya, Lan và Điệp, Con ma nhà họ Hứa; Băng Châu, Bạch Liên với Men tình mùa hạ, Hoa mới nở; Như Loan với Đời chưa trang điểm; Phương Hồng Ngọc với Nắng chiều, Nàng; Phương Hoài Tâm, Thanh Lan với Tiếng hát học trò, Trường tôi; Trang Thanh Lan với Xa lộ không đèn; Ngọc Đan Thanh với Quái nữ Việt quyền đạo; Mai Lệ Huyền với Gác chuông nhà thờ, Ly rượu mừng; Tuyết Lan, Quốc Dũng với Trường tôi; Kiều Phượng Loan, Bạch Lan Thanh...

    Từ năm 1970, điển ảnh Việt Nam Cộng Hòa liên tục cử nhiều đoàn đi tham dự các liên hoan phim quốc tế tại Liên bang Đức, Ấn Độ, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Campuchia... Được sự quan tâm của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, năm 1970, Giải thưởng Điện ảnh ra đời. Các hãng Mỹ Vân, Cosunam phim, Việt Nam Phim, Giao Chỉ phim... xin phép những dự án xây dựng phim trường. Từ cuối 1969, các phim sản xuất bắt đầu là phim màu, thường được in tráng ở nước ngoài, nhiều nhất là ở Nhật Bản. Chính phủ còn miễn thuế nhập cảng phim màu, tạo điều kiện cho tác nhà làm phim. Liên tiếp trong các năm 1971, 1972, 1973, 1974 ở các kỳ liên hoan phim trong khu vực, Việt Nam Cộng Hòa đều gặt hái được những giải thưởng tôn vinh các diễn viên Kiều Chinh, Thanh Nga, Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương...

    Giai đoạn này, đề tài làm phim cũng đa dạng hơn, phục vụ thị hiếu đông đảo khán giả. Con mà nhà họ Hứa sản xuất trong hai năm 1972 và 1973 là bộ phim kinh dị đầu tiên của Việt Nam. Bộ phim của Dạ Lý Hương phim, đạo diễn Lê Hoàng Hoa với các diễn viên Năm Châu, Bạch Tuyết, Thanh Tú, Dũng Thanh Lâm, Tư Rọm... đã thắng lớn về doanh thu. Những bộ phim hài như Năm vua hề về làng (1974), Tứ quái Sài Gòn (1973), Sợ vợ mới anh hùng (1974) đều là những phim ăn khách, thu hút khán giả tới rạp. Khi đó điện ảnh võ thuật Hồng Kông đang có sức hấp dẫn mạnh mẽ nên một số nhà làm phim cũng đi theo hướng này. Tiêu biểu như Long hổ sát đấu (1972), Hận thù, Quái nữ Việt quyền đạo.

    Một số tác phẩm văn học cũng được các nhà làm phim đưa lên màn ảnh như Trống mái (1971), Gánh hàng hoa (1971) dựa theo tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn, Điệu ru nước mắt (1971), Vết thù trên lưng ngựa hoang (1971) của nhà văn Duyên Anh, Chân trời tím (1970) của Văn Quang. Một đề tài hấp dẫn nữa là khai thác thế giới giang hồ, vũ nữ với những phim Sau giờ giới nghiêm (1972), Xa lộ không đèn (1972), Vết thù trên lưng ngựa hoang (1971), Mãnh lực đồng tiền (1971)... Cùng với đó phản ánh đời sống của giới trẻ thành thị Loan mắt nhung (1970), Hoa mới nở (1974), Hè 72, Anh yêu em...

    Loan mắt nhung năm 1970 của đạo diễn Lê Dân được xem là bộ phim chân thực hấp dẫn phản ánh đúng một bộ phận thanh thiếu niên Sài Gòn thời ấy. Phim dài 1 giờ 45 phút, phỏng theo truyện xã hội đen của Nguyễn Thụy Long, người đã sống một thời gian dài cùng du dãng và gái điếm. Với các diễn viên Huỳnh Thanh Trà trong vai Loan mắt nhung, Thanh Nga trong vai Xuân, người yêu của Loan mắt nhung, Ngọc Phu trong vai Thanh Italy, Kim Xuân vai Dung...phim có nhiều tình tiết éo le, những cảnh vũ trường ăn chơi của Sài Gòn.

    Năm 1970, Liên ảnh công ty bỏ ra một số tiền khổng lồ 14 triệu đồng cho Lê Hoàng Hoa làm phim Chân trời tím dựa theo tiểu thuyết của Văn Quang. Ban đầu Liên Ảnh công ty mời Kiều Chinh đóng vai Liên và đạo diễn được chọn là Hoàng Vĩnh Lộc, nhưng do thời gian chuẩn bị quá lâu nên hai nhân vật này bận phim khác đã từ chối. Về sau được thực hiện với các diễn viên Hùng Cường vai Phi, Thanh Lan vai Phượng, Kim Vui vai Liên, Ánh Nga vai Loan. Bộ phim được quay 3 tháng trời, với 100 xe tăng, 45 máy bay trực thăng, 300 xe cơ giới đủ loại, 600 diễn viên chính phụ và đã thu vào 94 triệu đồng.

    Bên cạnh đó, một số phim ca ngợi hình ảnh người lính quân đội Cộng hòa, tuyên truyền cho chính quyền miền Nam như Người tình không chân dung (1971), Xin nhận nơi này làm quê hương (1968), Người về từ đỉnh núi... Người tình không chân dung của hàng Giao Chỉ phim thực hiện năm 1970 do Hoàng Vĩnh Lộc đạo diễn. Kiều Chinh trong vai chính Mỹ Lan, một phát thanh viên giữ mục tâm tình chiến sĩ trên đài phát thanh dấn thân vào chiến trường tìm người yêu. Tuy được thực hiện với một kinh phí hạn hẹp, nhưng phim đã đoạt giải chủ đề phim xuất sắc nhất và nữ tài tử chính khả ái nhất tại đại hội điện ảnh Á Châu lần thứ 17 tổ chức tại Đài Bắc vào ngày 6 tháng 6 năm 1971.

    Cuối năm 1974, hoạt động làm phim vẫn diễn ra sôi động. Lê Hoàng Hoa làm bộ phim kinh dị Giỡn mặt tử thần với Thẩm Thúy Hằng, Phương Uyên. Thẩm Thúy Hằng cũng cùng với đạo diễn Lưu Bạch Đàn lên kế hoạch hợp tác với Nhật Bản quay bộ phim Tình khúc thứ 10, Hòn vọng phu... Ngày Điện ảnh Việt Nam 14 tháng 9 năm 1974, Thái Thúc Nha làm chủ tịch đã phát động phong trào ủng hộ điện ảnh với khẩu hiệu "Người Việt xem phim Việt". Hãng phim Mỹ Vân xây dựng hoàn chỉnh phim trường lớn ở xa lộ Biên Hòa. Dịp tết 1975, màn ảnh Sài Gòn nhộn nhịp với nhiều phim mới được công chiếu: Hải vụ 709, Từ quê ra tỉnh, Nữ quái sợ ma...

    Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 chấp dứt nền điện ảnh của Việt Nam Cộng Hòa. Cho đến tận khi đó, một vài bộ phim như Giỡn mặt tử thần... vẫn chưa kịp công chiếu.

    Giai đoạn sau 1975
    Sau năm 1975, miền Bắc và miền Nam thống nhất kéo theo những thay đổi của điện ảnh Việt Nam. Tại Sài Gòn, những nhà làm phim miền Bắc được tiếp nhận những tranh thiết bị, máy móc kỹ thuật của miền Nam. Họ cùng với những nghệ sĩ của miền Nam như các đạo diễn Lê Mộng Hoàng, Lê Hoàng Hoa... các diễn viên Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương, Nguyễn Chánh Tín, Lý Huỳnh... hợp thành một đội ngũ làm phim đông đảo. Đề tài làm phim cũng đa dạng. Ngoài những phim về chiến tranh Việt Nam, cũng có những phim nói về đề tài đô thị miền Nam. Trong giai đoạn này, điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong nền điện ảnh Việt Nam.

    Xưởng phim Giải phóng - thành lập từ tháng 1 năm 1962 - được mở rộng quy mô, sản xuất nhiều loại hình phim, đổi tên thành Xưởng phim Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Xưởng phim Nguyễn Đình Chiểu được thành lập với tiền thân là hãng phim Alfa của Sài Gòn trước 1975. Cơ quan Phát hành phim và chiếu bóng Giải phóng chuyển thành Chi nhánh Phát hành phim Trung ương tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trung tâm tư liệu phim các tỉnh phía Nam được thành lập để quản lý, lưu trữ các phim của điện ảnh miền Nam trước 1975, đến tháng 9 năm 1979 trở thành Cơ sở II của Viện Tư liệu phim Việt Nam (nay là Viện Nghệ thuật và Lưu trữ Điện ảnh).

    Bộ phim đầu tiên được ra đời Bên lề 30 - 4. Tiếp đó, Đài truyền hình thành phố thực hiện phim Cô Nhíp (1976) của đạo diễn Khương Mễ. Hãng phim truyện Việt Nam có Ngày lễ thánh do Bạch Diệp biên kịch và đạo diễn với các diễn viên Trà Giang, Như Quỳnh, Tuệ Minh, Trần Phương. Cũng năm 1976, Hãng phim truyện Việt Nam còn thực hiện một bộ phim đáng chú ý khác là Sao tháng tám, đạo diễn Trần Đắc, diễn viên Thanh Tú, Đức Hoàn, Lê Dũng Nhi.

    Ngoài 350 rạp chiếu phim, điện ảnh còn được phố biến nhờ 1.400 đội chiếu bóng lưu động. Đề tài chính của điện ảnh Việt Nam giai đoạn này vẫn là cuộc chiến tranh vừa kết thúc. Những bộ phim tiếp theo Mối tình đầu (1977), Mùa gió chướng (1978), Mẹ vắng nhà (1979)... và Cánh đồng hoang (1979) của Xưởng phim Tổng hợp là bộ phim dấu ấn nhất trong thời kỳ này.

    Cánh đồng hoang do nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết kịch bản, đạo diễn phim là Nguyễn Hồng Sến. Trước đó hai người đã hợp tác trong Mùa gió chướng, bộ phim đầu tay của Nguyễn Hống Sến trên vai trò đạo diễn, cũng là kịch bản đầu tay của Nguyễn Quang Sáng. Lấy bối cảnh vùng Đồng Tháp Mười, bộ phim phản ánh đời sống của một gia đình trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Hai diễn viên chính của Cánh đồng hoang là Lâm Tới và Thúy An. Cánh đồng hoang đã giành được nhiều giải quan trọng trong Liên hoan phim Việt Nam 1980 và Huy chương vàng tại Liên hoan phim Quốc tế Moskva, 1981.

    Sang thập niên 1980, đề tài làm phim đã thực sự đa dạng. Đạo diễn Phạm Văn Khoa có hai bộ phim chuyển thể từ tác phẩm văn học, Chị Dậu (1980) từ tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố và Làng Vũ Đại ngày ấy (1983) từ Sống mòn, Chí Phèo, Lão Hạc của Nam Cao. Đạo diễn Đặng Nhật Minh cũng đã thực hiện những bộ phim được chú ý, Thị xã trong tầm tay (1982), Bao giờ cho đến tháng mười (1984) và Cô gái trên sông năm 1986.

    Một tác phẩm điện ảnh dấu ấn trong giai đoạn này là bộ phim dài hơi Ván bài lật ngửa của đạo diễn Lê Hoàng Hoa do Xưởng phim Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh sản xuất. Ván bài lật ngửa được thực hiện từ năm 1982 tới năm 1987, gồm 8 tập: Đứa con nuôi vị giám mục, Quân cờ di động, Phát súng trên cao nguyên, Cơn hồng thủy và bản tango số 3, Trời xanh qua kẽ lá, Lời cảnh cáo cuối cùng, Cao áp và nước lũ, Vòng hoa trước mộ. Phim được chuyển thể từ tiểu thuyết tình báo cùng tên của nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý. Vai điệp viên Nguyễn Thành Luân do Nguyễn Chánh Tín và vai Thùy Dung do Thúy An và Thanh Lan thể hiện. Ván bài lật ngửa đã giành được Giải đặc biệt tại Liên hoan phim Việt Nam 1983, Bông sen bạc và nam diễn viên chính xuất sắc năm 1985.

    Từ tháng 4 năm 1975 đến năm 1985, điện ảnh Việt Nam đã thực hiện 149 bộ phim truyện ra mắt công chúng. Mỗi năm còn trung bình 12 phim hoạt hình và nhiều phim tài liệu

    Thời kỳ mở cửa

    Đến cuối thập niên 1980, khi Việt Nam bước sang giai đoạn Đổi mới thì điện ảnh rơi vào thời kỳ khủng hoảng. Những năm trước, trong thời kỳ bao cấp, các hãng phim được nhà nước cấp kinh phí để sản xuất phim, khâu phát hành phim do cơ quan khác quản lý. Đây là một trong những lý do làm giảm chất lượng phim. Thời kỳ này, sự cắt giảm ngân sách của Nhà nước làm cho điện ảnh không đủ kinh phí để sản xuất phim. Việc phân cấp các rạp và đội chiếu bóng về cho tỉnh, thành và quận, huyện được từ đầu những năm 1980, tới thời gian này được thực hiện triệt để. Nhà nước bắt đầu xóa bỏ bao cấp giành cho điện ảnh, chuyển từ chế độ bao cấp sang chế độ hạch toán kinh tế, có sự tài trợ một phần của Nhà nước. Các máy móc thiết bị làm phim đã cũ kỹ, tiền của Nhà nước đầu tư cho điện ảnh cũng bị thất thoát.

    Trong khi điện ảnh rơi vào bi kịch thì thể loại phim video mới xuất hiện và nhanh chóng đạt tới thời kỳ hoàng kim, thu hút một số lượng khán giả rất lớn. Số lượng máy video tăng nhanh và rạp chiếu phim không còn sức hút với khán giả. Nhiều hãng phim điện ảnh chỉ còn sản xuất một hai phim một năm, và chuyển sang làm phim video. Dòng phim này chủ yếu ở miền Nam, rất nhiều bộ phim thương mại được sản xuất ồ ạt, nội dung đơn giản, thường được gọi là dòng phim mỳ ăn liền. Dòng phim này cũng kéo theo một thế hệ diễn viên ngôi sao mới như Lý Hùng, Diễm Hương, Việt Trinh, Lê Công Tuấn Anh, Lê Tuấn Anh, Công Hậu, Thu Hà...

    Một thời gian đầu, các phim video hướng tới các đề tài dân gian, những câu chuyện cổ tích như Phạm Công Cúc Hoa, Thạch Sanh... Khi thể loại phim võ thuật của Hồng Kông du nhập vào Việt Nam mạnh mẽ, các nhà làm phim cũng sản xuất hàng loạt những phim võ hiệp dã sử Thăng Long đệ nhất kiếm, Lửa cháy thành Đại La, Tráng sĩ Bồ Đề... Thời kỳ cuối cùng, cùng là giai đoạn mạnh mẽ nhất, là những bộ phim tình cảm sướt mướt, bi lụy, những cuộc tình tay ba ngang trái: Sau những giấc mơ hồng, Em không dối lừa, Sau cơn mưa trời lại sáng, Tóc gió thôi bay... Cho đến giữa những năm 1990, do nhu cầu và thị hiếu khán giả thay đổi, dòng phim này bắt đầu đi xuống.

    Giai đoạn này số lượng phim điện ảnh được sản xuất giảm đáng kể. Số lượng rạp chiếu phim cũng giảm bớt. Nhiều rạp chiếu phim bị phá bỏ, hoặc chuyển sang kinh doanh lĩnh vực khác, biến thành vũ trường. Một vài tác phẩm thành công của thời kỳ này có thể kể đến Vị đắng tình yêu (1991), Người đi tìm dĩ vãng chuyển thể từ tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng của nhà văn Chu Lai với các diễn viên Trần Lực, Thanh Mai, Lê Công Tuấn Anh, Thương Tín.

    Vị đắng tình yêu được Hãng phim Giải Phóng sản xuất năm 1991, do Lê Hoàng đạo diễn với các diễn viên Thuỷ Tiên, Lê Công Tuấn Anh, Lê Cung Bắc, Y Phụng, Phước Sang... Vai Quang "Don Quixote" là vai diễn dấu ấn của Lê Công Tuấn Anh. Tại Liên hoan phim quốc gia 1993, Vị đắng tình yêu đã giành nhiều giải quan trọng: Bông sen vàng, Đạo diễn xuất sắc, Nam diễn viên chính xuất sắc. Đây được xem là một bộ phim vừa thành công về doanh thu lẫn nghệ thuật.

    Năm 1992, có hai bộ phim Pháp được thực hiện ở Việt Nam. Người tình của đạo diễn Jean-Jacques Annaud dựa theo tiểu thuyết cùng tên của Marguerite Duras với sự tham gia của nữ diễn viên Pháp Jane March và diễn viên Hồng Kông Lương Gia Huy. Bộ phim thứ hai là Đông Dương, đạo diễn Régis Wargnier và hai ngôi sao Catherine Deneuve và Vincent Perez. Diễn viên người Pháp gốc Việt Phạm Linh Đan trong vai Camille, con gái nuôi của Eliane Devries - vai Catherine Deneuve thể hiện. Đông Dương đã được trao giải Oscar cho phim ngoại ngữ hay nhất năm 1992.

    Năm 1993, chương trình Chấn hưng điện ảnh cấp Nhà nước được Chính phủ phê duyệt và bước đầu triển khai.



    [you] hãy bấm vào đây
    Tò mò quá, bấm đi chứ, không là

    LIÊN HỆ: Click vào đây để chat qua Yahoo với smartboy16187

  8. 2 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới Sonkeyboard cho bài viết hữu ích này:


  9. #5
    Manager
    Sonkeyboard's Avatar
    Ngày tham gia
    18-03-2010
    Đang ở
    TP Vinh - Nghệ An
    Bài viết
    4,026
    Thanks
    14,943
    Được THANKS 24,942 lần
    Điện ảnh hải ngoại

    Từ những năm ngay sau 1945, đã có những thước phim của các Việt kiều Pháp gửi về Việt Nam. Đó là những phim tài liệu về Hội nghị Fontainebleau, Hồ Chí Minh ở Pháp, hay về đời sống của những Việt kiều. Đầu những năm 1950, có những thanh niên Việt Nam sang Pháp học về điện ảnh. Sau khi tốt nghiệp, một số về nước làm phim, như đạo diễn Phạm Kỳ Nam của miền Bắc, Lê Dân, Hoàng Anh Tuấn, Lê Mộng Hoàng của miền Nam. Một số khác ở lại Pháp làm phim, nhưng không có thành công đáng kể.

    Đạo diễn Việt kiều đầu tiên được giới điện ảnh nước ngoài chú ý đến là đạo diễn Lê Lâm với bộ phim ngắn Long Vân Khánh Hội làm năm 1980 tại Pháp. Bộ phim nói về một người lái tàu hỏa phải thực hiện công việc trong khi người vợ ở nhà đang hấp hối. Long Vân Khánh Hội được giới thiệu trong chương trình Triển vọng của điện ảnh Pháp tại Liên hoan phim Cannes năm đó. Ba năm sau, Lê Lâm làm tiếp phim Tro tàn của đế chế. Bộ phim là một hoài niệm của tác giả về quê hương trong mối quan hệ với những người Pháp thông qua nhân vật viên sĩ quan và người nữ tu sĩ Pháp, do nữ diễn viên nổi tiếng người Pháp Dominique Sanda thủ vai.



    Trong mười năm sau đó, Lê Lâm không làm phim nữa và cũng không có tên tuổi của đạo diễn người Việt nào được nhắc đến trong hoạt động điện ảnh ở nước ngoài.

    Mở đầu cho làn sóng các đạo diễn Việt kiều về Việt Nam làm phim là Hồ Quang Minh. Vào năm 1985, đạo diễn Hồ Quang Minh từ Thụy Sĩ về nước thực hiện bộ phim Con thú tật nguyền của Hãng phim Giải Phóng. Tiếp đó ông làm các bộ phim Trang giấy trắng (1991), Bụi hồng (1996) và mang những phim này tham dự một số liên hoan phim quốc tế.

    Năm 1993, đạo diễn trẻ người Pháp gốc Việt Trần Anh Hùng thực hiện bộ phim đầu tay Mùi đu đủ xanh. Bộ phim nói về một cô gái, từ khi còn bé tới lúc trưởng thành, ở Sài Gòn thập niên 1950. Trong một khung cảnh nhỏ hẹp, cốt truyện đơn giản, tác giả đặc biệt chú ý đến hình ảnh và màu sắc . Và ngay từ tác phẩm đầu tay này, Trần Anh Hùng đã thành công. Mùi đu đủ xanh giành được giải Trẻ và giải Camera vàng trong Liên hoan phim Cannes năm đó. Sang năm 1994, phim được đề cử tranh giải Oscar cho phim ngoại ngữ hay nhất và giành được giải César cho tác phẩm đầu tay.

    Năm 1995, Trần Anh Hùng trở về Việt Nam làm phim Xích lô. Xích lô có sự tham gia của nhiều diễn viên Việt Nam cùng ngôi sao điện ảnh Hồng Kông Lương Triều Vỹ. Khác với bộ phim trước, bối cảnh của Xích lô là Thành phố Hồ Chí Minh thập niên 1990 với nhiều bạo lực, tệ nạn. Phim đã giành đươc giải Sư tử vàng và giải FIPRESCI tại Liên hoan phim Venise năm 1995. Năm 1999, Trần Anh Hùng thực hiện bộ phim thứ ba cũng ở Việt Nam, Mùa hè chiếu thẳng đứng với sự tham gia của nhiều diễn viên Việt Nam nổi tiếng: Lê Khanh, Như Quỳnh, Trần Quang Hải, Lê Tuấn Anh... Với ba phim, tuy giành được những thành công ở nước ngoài, Trần Anh Hùng không được nhiều khán giả Việt Nam biết tới. Các nhà làm phim trong nước đánh giá phim Trần Anh Hùng ít bản sắc Việt Nam.

    Cũng năm 1999, đạo diễn Việt kiều Mỹ Tony Bùi về nước làm Ba mùa, một bộ phim với ba câu chuyện nhỏ xen kẽ với nhau. Ba mùa có sự tham gia của diễn viên người Mỹ Harvey Keitel trong vai một cựu chiến binh Mỹ trở lại Việt Nam tìm con gái, và các diễn viên Việt Nam như Đơn Dương, Ngọc Hiệp... Ba mùa được công chiếu rộng rãi ở Việt Nam và đã thu hút được khán giả. Phim đoạt cả hai giải khán giả lẫn giám khảo tại Liên hoan phim Sundance. Năm 2001, Tony Bùi đứng ra làm nhà sản xuất cho bộ phim đầu tay của anh mình là Timothy Linh Bùi mang tên Rồng xanh. Phim nói về những người Việt tị nạn sau biến cố tháng 4 năm 1975 với sự tham gia của ngôi sao Hollywood Patrick Swayze, diễn viên Đơn Dương, các diễn viên hải ngoại Lê Thị Hiệp, Kathleen Luong. Rồng xanh vấp phải sự phản đối của Nhà nước Việt Nam và sau bộ phim này, diễn viên Đơn Dương rời Việt Nam sang định cư tại Hoa Kỳ.

    Sang thập niên 2000, làn sóng các đạo diễn Việt kiều về nước làm phim trở nên mạnh mẽ. Như Hồ Quang Minh với Thời xa vắng (2004), Việt Linh với Mê Thảo - Thời vang bóng (2003), Nguyễn Võ Nghiêm Minh với Mùa len trâu (2004), Đoàn Minh Phượng với Hạt mưa rơi bao lâu (2005). Họ cùng với các nhà làm phim trong nước tạo nên nền điện ảnh Việt Nam đương đại.

    Điện ảnh tại hải ngoại

    Bên cạnh những đạo diễn về Việt Nam làm phim, một số nhà làm phim Việt kiều thực hiện các bộ phim ngay tại hải ngoại.

    Sau 1975, nhiều người Việt rời Việt Nam định cư ở nước ngoài. Một số diễn viên Việt kiều tham gia vào nền điện ảnh nơi họ định cư. Như Kiều Chinh giành được nhiều vai diễn nhỏ tại Hollywood. Năm 1993, Lê Thị Hiệp đóng vai nữ chính bên cạnh Tommy Lee Jones trong bộ phim nói về chiến tranh Việt Nam Trời và đất của đạo diễn nối tiếng Oliver Stone. Các diễn viên trẻ như Johnny Trí Nguyễn, Dustin Nguyễn cũng tham gia nhiều phim của Hollywood.

    Năm 2003, một đạo diễn trẻ Victor Vũ thực hiện bộ phim thứ hai của mình là Một buổi sáng đầu năm (First Morning). Trước đó anh đã làm một phim ngắn tên Firecracker vào năm 1997. Một buổi sáng đầu năm được thực hiện đơn giản, nhưng về nội dung tác giả lại muốn đề cập đến nhiều khía cạnh cuộc sống của người Việt tị nạn. Bộ phim, với sự tham gia của những diễn viên trẻ của điện ảnh hải ngoại là Johnny Trí Nguyễn và Kathleen Lương, đã không để lại dấu ấn gì. Năm 2004, Victor Vũ làm Oan hồn [Spirits), một phim thuộc thể loại kinh dị mang chất Á đông. Oan hồn được báo chí Việt Nam nhắc đến và Victor Vũ đã mang bộ phim này tham dự một số liên hoan phim. Năm sau 2006, Victor Vũ tiếp tục sản xuất bộ phim kinh dị Thế giới huyền bí tập 1 là Tình yêu bất biệt (Mysterious World, Episode 1: Love Never Die).

    Bắt đầu năm 2005 và chính thức ra mắt năm 2007, đạo diễn Hàm Trần với bộ phim Vượt sóng (Journey from the Fall - Hành trình từ sự sụp đổ) đã giành được sự chú ý của cộng đồng người Việt hải ngoại. Phim được trình chiếu rộng rãi tại Hoa Kỳ và đã đoạt được doanh thu kỷ lục cho mỗi rạp. Bộ phim nói về cảnh ngộ của những người trong trại cải tạo ở Việt Nam sau 1975 và sau đó là những thuyền nhân. Vượt sóng có sự tham gia của Kiều Chinh, Nguyễn Long và diễn viên, nữ ca sĩ Diễm Liên. Kinh phí sản xuất bộ phim này cũng do cộng đồng người Việt ở Mỹ tài trợ.

    Vào năm 2003, Đại hội Điện ảnh Việt Nam Quốc tế lần đầu tiên được tổ chức ở vùng Little Saigon của Quận Cam, California, Hoa Kỳ. Sau đó Đại hội sẽ được tổ chức hai năm một lần. Đây là đại hội điện ảnh duy nhất giành riêng cho các nhà làm phim gốc Việt trên toàn thế giới. Ngoài những nhà làm phim Việt kiều, một số đạo diễn trong nước như Pham Nhuệ Giang, hay Bùi Thạc Chuyên cũng đem phim tới dự.

    Điện ảnh Việt Nam đương đại
    Từ giữa thập niên 1990, điện ảnh Việt Nam bắt đầu bước dần ra khỏi thời kỳ khủng hoảng. Số lượng phim tăng lên. Ngoài những phim tiếp tục khai thác đề tài chiến tranh như Hà Nội, mùa đông năm 1946 (1997) của Đặng Nhật Minh, Ngã ba Đồng Lộc (1997) của Lưu Trọng Ninh, Đời cát (1999) của Thanh Vân, Ai xuôi Vạn Lý (1996) của Lê Hoàng... các nhà làm phim đã hướng tới những đề tài đương đại: Vương Đức với Những người thợ xẻ (1998), Nhuệ Giang với Thung lũng hoang vắng (2000), Đỗ Minh Tuấn với Vua bãi rác (2002)...

    Năm 1999, Liên hoan phim Châu Á-Thái Bình Dương được tổ chức ở Hà Nội. Điện ảnh Việt Nam đã giành được nhiều giải quan trọng: Phim hay nhất cho Đời cát của đạo diễn Thanh Vân, Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai của Trần Văn Thủy đạt phim ngắn hay nhất, hai diễn viên Mai Hoa và Hồng Ánh trong Đời cát đạt hai giải giành cho nữ diễn viên chính và nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất.

    Nhưng hầu hết những bộ phim này, với tư duy làm phim cũ, đã không kéo được khán giả tới rạp, các phim làm ra tiếp tục thua lỗ. Nhà nước vẫn cấp kinh phí để sản xuất những phim kỷ niệm các ngày lễ lớn. Những bộ phim này thường được thực hiện với kinh phí lớn, nhưng ít được khán giả quan tâm, thậm chí các tên phim Ký ức Điện Biên, Giải phóng Sài Gòn còn làm khán giả tưởng nhầm là phim tài liệu. Ký ức Điện Biên (2004) kỷ niêm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ được đầu tư 15 tỷ đồng, khi công chiếu thu hút rất ít khán giả. Trong ba ngày chiếu tại rạp Đống Đa Thành phố Hồ Chí Minh chỉ bán được 60 vé. Tại Hà Nội, ngoài hai suất chiếu phục vụ công ích cũng chỉ chiếu được tám suất doanh thu, bình quân 25, 30 vé[5]. Sau đó Nhà nước có văn bản chỉ đạo các cơ quan, doanh nghiệp tổ chức xem phim. Tuy thế, tại lễ trao giải Cánh diều vàng 2004, với Ký ức Điện Biên Đỗ Minh Tuấn vẫn nhận giải Đạo diễn xuất sắc nhất.



    Vào cuối thập niên 1990, đầu thập niên 2000, nhiều rạp chiếu phim được nâng cấp, trang bị lại. Trung tâm Chiếu phim Quốc gia được xây dựng mới ở Hà Nội. Một làn sóng phim nước ngoài tràn ngập vào Việt Nam với những bộ phim ăn khách của Mỹ, Hàn Quốc, Hồng Kông. Khán giả Việt Nam bắt đầu lấy lại thói quen tới rạp chiếu phim. Năm 2001, đạo diễn người Úc Phillip Noyce tới Việt Nam quay bộ phim Người Mỹ trầm lặng chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Graham Greene. Phim có sự tham gia của hai diễn viên nổi tiếng của Hollywood là Michael Caine và Brendan Fraser. Vai nữ chính trong phim do diễn viên Việt Nam Hải Yến đóng.

    Đầu thập niên 2000, các nhà làm phim Việt Nam cũng cố gắng làm những phim thu hút khán giả. Người đi đầu trong trào lưu làm phim thị trường là đạo diễn Lê Hoàng với Gái nhảy (2003) của Hãng phim Giải phóng. Năm 2001, Lê Hoàng nhận kịch bản Trường hợp của Hạnh của biên kịch Ngụy Ngữ. Ban đầu ông định làm phim theo phong cách bán tài liệu, sau đó chuyển dần sang hướng phim xã hội và lấy tên phim là Gái nhảy. Được công chiều vào dịp Tết đầu năm 2003, Gái nhảy đã thu hút một số lớn khán giả. Tuy gặp phải sự phê bình mạnh mẽ của báo chí và đồng nghiệp, phim vẫn đạt kỷ lụt về doanh thu. Những năm tiếp theo, Lê Hoàng tiếp tục sản xuất những phim ăn khách khác như Lọ lem hè phố (2004), Nữ tướng cướp (2005), Trai nhảy (2007).

    Điện ảnh trở thành một thị trường với nhiều hãng phim tư nhân tham gia. Trong đó có những hãng phim lớn mạnh như hãng Thiên Ngân và hãng Phước Sang. Năm 2004, Thiên Ngân tung ra Những cô gái chân dài của đạo diễn Vũ Ngọc Đãng với một chiến dịch quảng cáo rầm rộ thể hiện. Bộ phim có nhiều điều mới so với điện ảnh Việt Nam: một trang web riêng của phim được lập, cuộc thi vẽ poster, soundtrack đuợc làm riêng cho phim với ca sĩ nổi tiếng. Những cô gái chân dài là bộ phim nó về giới người mẫu, các vai chính cũng do những người mẫu nổi tiếng Anh Thư, Xuân Lan, Thanh Hằng, Ngọc Nga thể hiện. Không chỉ thành công về thương mại, Những cô gái chân dài còn là bộ phim tư nhân đầu tiên giành được giải tại Liên hoan phim Việt Nam: giải Cánh diều bạc năm 2004.

    Những năm 2005, 2006, thị trường phim Việt Nam trở nên sôi động với nhiều bộ phim, phần lớn của các hãng tư nhân: Khi đàn ông có bầu (2005), 1735 km (2005), Chiến dịch trái tim bên phải (2005), Đẻ mướn (2006), 2 trong 1 (2006), Hồn Trương Ba, da hàng thịt (2006)... Để thu hút khán giả, các hãng phim đã mời những ca sĩ, người mẫu nổi tiếng tham gia. Ngoài những đạo diễn Việt Kiều như Hồ Quang Minh, Việt Linh, Nguyễn Võ Nghiêm Minh... Một số nhà làm phim trẻ Việt kiều cũng về Việt Nam làm phim: Nguyễn Nghiêm Đặng Tuấn có 1735 km (2005), Ringo Le có Chuyện tình Sài Gòn (2005) và gần đây là Charlie Nguyễn có Dòng máu anh hùng (2007) với sự tham gia của Johnny Trí Nguyễn, Dustin Nguyễn, Ngô Thanh Vân, Nguyễn Chánh Tín.

    Một số rạp chiếu hiện đại tiếp tục được xây dựng. Trong đợt chiếu phim Tết 2007, với những bộ phim thương mại và phim hướng về nghệ thuật: Võ lâm truyền kỳ, Trai nhảy, Đợi chuông reo rồi sẽ bắn, Áo lụa Hà Đông, điện ảnh Việt Nam dành được khán giả trước những phim nước ngoài.

    Tham khảo
    Sơ lược lịch sử điện ảnh Việt Nam Phần I, Phần II trên trang yxine
    Điện ảnh Việt Nam - Quá khứ và hiện tại Phần I, Phần II, Phần III trên trang yxine
    Điện ảnh thương mại Việt Nam - Trôi theo dòng lịch lử (bài viết)
    Bước đầu của phim truyện Cách mạng của Vũ Quang Chính
    Điện ảnh Việt Nam trước cách mạng tháng Tám năm 1945 trên trang của Bộ Văn hóa - Thông tin
    Điện ảnh Cách mạng Việt Nam trên trang của Bộ Văn hóa - Thông tin
    Lịch sử điện ảnh Việt Nam trên trang của Bộ Văn hóa - Thông tin
    Điện ảnh hải ngoại và đôi nét chấm phá trên trang của Đảng Cộng sản Việt Nam
    Dòng phim Việt kiều: Làm phim bằng con mắt người khác trên trang của Bộ Văn hóa - Thông tin


    [you] hãy bấm vào đây
    Tò mò quá, bấm đi chứ, không là

    LIÊN HỆ: Click vào đây để chat qua Yahoo với smartboy16187

  10. 3 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới Sonkeyboard cho bài viết hữu ích này:


  11. #6
    Manager
    Sonkeyboard's Avatar
    Ngày tham gia
    18-03-2010
    Đang ở
    TP Vinh - Nghệ An
    Bài viết
    4,026
    Thanks
    14,943
    Được THANKS 24,942 lần
    ĐIỆN ẢNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM- TRÔI THEO DÒNG LỊCH SỬ




    Ngày nay trên toàn thế giới, các nhà sử gia, nghiên cứu về lịch sử Điện ảnh đều công nhận rằng ngành nghệ thuật thứ bảy chính thức được khai sinh ra vào những ngày đông giá buốt cuối năm 1895 tại Pháp bởi hai anh em nhà Lumière. Không lâu sau đó, tức chỉ ba năm sau, điện ảnh đã được người Pháp du nhập vào Việt Nam một cách nhanh chóng. Thời ấy, người ta gọi những buổi trình chiếu phim là buổi trình diễn “trò chớp bóng”...

    Trước năm 1945
    Sau khi thành lập vào ngày 11 tháng 9 năm 1923, công ty Phim và Chiếu bóng Ðông Dương liền bắt tay sản xuất phim tại Việt Nam. Từ 1923 đến 1938, người Pháp đã sản xuất được 10 phim (trong đó có 3 phim truyện).
    Tính theo giai đoạn từ năm 1920-1945 đã có một số bộ phim do Việt Nam làm hoặc do Pháp sản xuất với diễn viên là người Việt Nam như: Kim Vân Kiều, Huyền Thoại Bà Đế, Một Đồng Kẽm Tậu Được Ngựa, Cánh Đồng Ma, Trận Phong Ba, Một Buổi Chiều Trên Sông Cửu Long, Thầy Pháp Râu Đỏ, Trọn Với Tình, Toét Sợ Ma…
    Kim Vân Kiều của đại thi hào Nguyễn Du được hãng phim của Pháp- Indochine Films et Cinema (IFEC) đưa lên màn bạc, với các diễn viên là các đào kép tuồng của ban Quảng Lạc, Hà Nội. Phim mắc phải nhiều sai lầm về nội dung, phần diễn xuất cũng chẳng có gì khác hơn hát trên sân khấu, đào kép thì ăn mặc và cử chỉ như hát tuồng…Sau cái thất bại của phim Kim Vân Kiều, hãng IFEC lại thực hiện hai cuốn phim hài do tài tử người Tàu lai tên Tou Fou đóng vai chánh. Hai phim này cũng thất bại luôn! Vẫn không nản lòng, IFEC cố gắng làm một phim dài về Việt Nam, đó là phim Huyền Thoại Bà Ðế do Paul Numier viết kịch bản, dựa theo câu chuyện đau thương của một cô gái được truyền tụng trong dân gian. Vai chánh do cô đầm lai Georges Spesct thủ diễn, các tài tử Việt chỉ đóng vai phụ và phim này cũng không được hoan nghinh, bởi có nhiều cái ngớ ngẩn, sai lạc.
    Kế đó chẳng bao lâu thì tiệm chụp ảnh Hương Ký ở Hà Nội của ông Nguyễn Lan Hương- một người nhiệt tình với nghệ thuật thứ bảy trong giai đoạn sơ khai, đã mướn một chuyên viên người Pháp dạy ông và phim đầu tiên là cuốn phim hài Một Ðồng Tiền Kẽm Tậu Ðược Ngựa, phỏng theo tác phẩm Perrette Et Le Pot De Lait, truyện ngụ ngôn của La Fontaine. Phim thứ hai của Hương Ký cũng là phim hài với tựa phim là Cả Lố, nhưng phim đang quay dở dang lại phải bỏ, vì có sự bất đồng giữa Hương Ký và tài tử đóng phim. Sau đó, Hương Ký còn quay phim tài liệu về đám tang vua Khải Ðịnh và lễ Tấn phong Hoàng Ðế Bảo Ðại. Tuy được hoan nghênh, nhưng vì không có thị trường nên không đủ bù đắp vào số vốn đã bỏ ra thực hiện phim. Phim chiếu ở Hà Nội được 27 ngày, doanh thu khoảng 5.000 đồng tiền Ðông Dương, trong khi chi phí sản xuất gần 30.000.
    Nhờ có tiếng vang, ông được Tỉnh trưởng tỉnh Vân Nam (Trung quốc) đặt hàng làm hai phim phóng sự quay tại Trung Quốc (một trong hai phim là Ðám Tang Tướng Ðường Kế Nghiêu, năm 1929). Nhưng sau đó người ta không thấy ông Nguyễn Lan Hương làm phim tiếp, mà lặng lẽ trở về với nghề nhiếp ảnh của mình. Có người cho rằng chính quyền Thực dân Pháp không muốn có một công ty Việt Nam cạnh tranh với Công ty Phim và Chiếu bóng của người Pháp đang bị thua lỗ nặng nề sau khi làm ba phim thất bại. Hãng phim đầu tiên của người bản xứ - hãng Hương Ký - tự xóa sổ sau vài năm tồn tại. Từ đó, hoạt động sản xuất phim của người Việt Nam ngưng hoạt động suốt 7 năm liền (1930-1936). Dầu sao, ông Nguyễn Lan Hương cùng hãng phim Hương Ký của mình đã chứng minh được một điều: Người Việt Nam có thể làm phim và đã từng làm được phim của mình vào những năm cuối thời kỳ phim câm của điện ảnh thế giới.
    Dù bước đầu của điện ảnh Việt khó khăn và thất bại, nhưng ma lực của điện ảnh vẫn khiến nhiều nhóm bạn trẻ khác hăng hái theo đuổi. Nhóm Nguyễn Tấn Giàu (Antoine Giàu) với hai phim Một Buổi Chiều Trên Sông Cửu Long, và Thầy Pháp Râu Ðỏ. Kế tiếp là ông Richard Nguyên với phim Huế Ðẹp Và Thơ, các phim trên đều quay bằng phim 16 ly… Những năm 30 của thế kỷ XX đánh dấu nhiều sự kiện quan trong trong đời sống của nhân dân Việt Nam: Ðảng Cộng Sản Ðông Dương ra đời (3-2-1930), nhiều cuộc đấu tranh của nông dân, thợ thuyền chống lại chính sách hà khắc của thực dân Pháp. Một mặt, do nước Pháp phải bận tâm dồn sức đối phó với thế lực phát xít đang ráo riết chuẩn bị chiến tranh thế giới lần thứ hai. Mặt khác, nhờ Mặt trận Bình dân ở Pháp thắng lợi trong cuộc bầu cử, lập chính phủ mới vào năm 1936, nới lỏng ách cai trị đối với các thuộc địa. Tại Việt Nam, hình thành một lớp trí thức, văn nghệ sỹ, nhà báo, thanh niên thành thị tiếp thu những tinh hoa của văn hóa Pháp. Một cao trào sáng tác văn học, sân khấu, âm nhạc nở rộ. Trong bối cảnh đó, từ năm 1936 đã xuất hiện nhiều nhóm thanh niên Việt Nam có ý định làm phim. Những thanh niên này tập hợp nhau lại trong một tổ chức có tên là An Nam nghệ sỹ đoàn (An Nam là tên gọi trước đây của Việt Nam). Họ say mê nghệ thuật thứ bảy, tự học hỏi về nghề nghiệp mới mẻ này qua sách vở gửi mua từ Pháp. Họ có đủ nhiệt tình duy chỉ thiếu tiền và phương tiện máy móc. Chuyến thăm Hà Nội và Sài Gòn của thiên tài điện ảnh Charlie Chaplin cùng vợ là Paulette Godart vào năm 1937 lại càng thổi bùng lên ngọn lửa nhiệt tình trong tim họ.
    Ðầu năm 1937, một thương gia người Hoa giàu có ở Hải Phòng tên Trịnh Lâm Ký đã tiếp xúc với An Nam Nghệ sỹ đoàn, bàn việc đưa một đoàn diễn viên Việt Nam sang Hong Kong quay phim. Nhưng việc không thành vì xảy ra cuộc chiến Trung - Nhật. An Nam Nghệ sỹ đoàn tiếp tục vận động những người giàu có ở Hà Nội bỏ tiền ra làm phim, nhưng không có kết quả.
    Cuối tháng 11 năm 1937, An Nam Nghệ sỹ đoàn ký được một hơp đồng làm phim với Công ty điện ảnh Nam Trung hoa (The South China Motion Pictures Co.) để sản xuất bộ phim truyện dài Cánh Đồng Ma. Theo hợp đồng, phía Việt Nam chịu trách nhiệm viết kịch bản, cung cấp 22 diễn viên cho các vai chính phụ trong phim, tự chi tiền vé khứ hồi bằng đường thủy Hải Phòng - Hong Kong - Hải Phòng, trả tiền thù lao cho các diễn viên và sẽ được hưởng 15% lợi nhuận sau khi trừ toàn bộ chi phí. Phía Công ty điện ảnh Nam Trung Hoa cử người làm đạo diễn, quay phim cùng các chuyên viên kỹ thuật, phương tiện máy móc, tổ chức sản xuất, in tráng, hậu kỳ, in hàng loạt các bản phim để chiếu ở các rạp, được hưởng 85% lợi nhuận.
    Kịch bản phim Cánh Đồng Ma do Ðàm Quang Thiện viết (bút danh trên phim là Nguyễn Văn Nam). Nhân vật chính là Hùng, một sinh viên trường Y, học hành rất thông minh, nhưng vì xuất thân trong một gia đình bất hảo (cha mẹ đều là dân ăn chơi) nên Hùng nhiễm cái gien của cha mẹ mình. Do vậy, càng hấp thu được nhiều kiến thức khoa học, Hùng càng có nhiều hành động dị thường. Ðàm Quang Thiện vốn là một sinh viên Y khoa, nên kịch bản của ông muốn chứng minh cho luận thuyết di truyền trong y học. Song, Công ty điện ảnh Nam Trung Hoa cùng Ðạo diễn Trần Phì, người Trung Hoa, đã tự ý sửa nội dung kịch bản, biến nó thành một phim trinh thám với nhiều máu và đàn bà. Các nghệ sỹ Việt Nam cực lực phản đối nhưng không kết quả. Họ đành phải uất ức mà diễn theo những nội dung không có từ trước trong kịch bản. Sau 13 ngày quay cật lực, phim Cánh Đồng Ma đã hoàn thành giai đoạn quay vào ngày 30-1-1938.
    Sau khi xong Cánh Đồng Ma, Công ty Nam Trung Hoa đã dụ dỗ 6 diễn viên người Việt ở lại Hong Kong để quay tiếp cho họ phim Trận Phong Ba, một phim 100% là phim Hong Kong tuy câu chuyện nói về người Việt và do người Việt đóng. Truyện phim kể về cuộc đời của một học sinh gốc nông thôn được cha mẹ cho ra thành phố ăn học, nhưng đã sa ngã trong "gió bụi kinh thành". Cuối cùng chàng bị cha mẹ, vợ hiền từ bỏ, nên đã tự tử để thoát đời trần tục. Phim Trận Phong Ba khởi quay 6 ngày sau khi kết thúc cảnh quay cuối cùng của phim Cánh Đồng Ma. Công ty Nam Trung Hoa gấp rút hoàn thành phim này với âm mưu tung ra chiếu trước phim Cánh Đồng Ma. Do phim làm một cách cẩu thả, vội vã nên khi đưa sang chiếu ở Việt Nam bị người xem kịch liệt phản đối la ó ầm ĩ ngay trong rạp. Báo chí ở Việt Nam hồi ấy đều cho rằng đây là một thứ hàng giả dán nhãn hiệu Việt Nam, đồng thời cũng lên án 6 diễn viên người Việt ở lại Hong Kong để đóng phim này.
    Ðến đầu tháng 7 năm 1938, phim Cánh Đồng Ma mới được Công ty Nam Trung Hoa tung ra chiếu (sau Trận Phong Ba 1 tháng). Tuy có hơn Trận Phong Ba một chút, nhưng khán giả cũng như dư luận báo chí đều chê trách những yếu kém của phim. Sau Cánh Đồng Ma, các nghệ sỹ trong An Nam Nghệ sỹ đoàn còn tham gia hai phim truyện nói tiếng Pháp do Hãng Franco Film thực hiện tại Việt Nam rồi không tiếp tục hoạt động nữa vì không có ai dám bỏ vốn ra làm phim tiếp. An Nam Nghệ sỹ đoàn chỉ tồn tại trong 2 năm nhưng họ đáng được ghi nhận như những người Việt Nam đầu tiên hợp tác làm phim với nước ngoài, tuy không đựơc thuận lợi như ta đã biết.
    Cuối năm 1937, chủ Hãng đĩa hát Asia tên là Nguyễn Văn Ðinh, vốn là một kỹ sư say mê nghệ thuật điện ảnh, đã cho ra đời Hãng phim Châu Á (Asia Film) tại Sài Gòn. Ông bỏ tiền mua máy móc thiết bị từ bên Pháp về để sản xuất phim có tiếng cỡ 35mm đầu tiên tại Việt Nam. Ðầu năm 1938, hãng Asia Film khởi quay bộ phim đen trắng 35mm Trọn Với Tình có độ dài 90 phút. Ðạo diễn là Nguyễn Văn Danh (tức Tám Danh), xuất thân từ nghệ sỹ sân khấu cải lương. Kịch bản, quay phim và dựng phim do Giám đốc hãng là Nguyễn Văn Ðinh thực hiện. Phim được quay và làm hậu kỳ hoàn toàn tại Việt Nam do các chuyên viên kỹ thuật Việt Nam đảm nhiệm mà lực lượng nồng cốt là các kỹ thuật viên của hãng đĩa Asia. Trình độ nghề nghiệp thấp, kỹ thuật non yếu không thể mang lại thành công cho phim Trọn Với Tình như mong đợi. Dầu sao, khi tung ra chiếu vào đầu năm 1939, người xem cũng đông để cổ vũ cho phim nước nhà, vì đây là một bộ phim "có tiếng nói" 35mm đầu tiên tại Việt Nam, do người Việt Nam sản xuất.
    Sau Trọn Với Tình, Nguyễn Văn Ðinh còn cho ra tiếp 3 phim nữa do mình tự viết kịch bản, tự đạo diễn, tự quay phim, dựng phim v.v... Ðó là các phim: Cô Nga Dạo Thị Thành (1939), Khúc Khải Hoàn và Toét Sợ Ma (1940), nhưng nghệ thuật và kỹ thuật của cả 3 phim đều không hơn gì Trọn Với Tình. Từ năm 1940, hãng phim Châu Á ngừng hoạt động cho đến những năm 60, mới hoạt động trở lại tại Sài Gòn.
    Năm 1939, một hãng phim mới ra đời nữa tại Sài Gòn là hãng Việt Nam Phim với bộ phim truyện ra mắt có tên là Một Buổi Chiều Trên Sông Cửu Long. Phim được quay 16mm, có độ dài 90 phút với âm thanh ngoài phim (nhạc, lời, tiếng động được thu vào đĩa, khi chiếu được bật lên cùng hình ảnh). Thực sự đây là một phim "câm "do Nguyễn Tấn Giầu viết kịch bản, đạo diễn, quay phim, viết nhạc kiêm giám đốc sản xuất. Phim kể về một cô gái bất hạnh bị cha mẹ ép gả cho một trọc phú ít học, cục mịch và thô lỗ, nên đã cùng người yêu chạy trốn ngay trong đêm tân hôn. Không may, người yêu trượt chân ngã xuống thác nước chết. Cô gái chôn cất người yêu xong, cắt tóc đi tu. Phim Một Buổi Chiều Trên Sông Cửu Long chỉ ra mắt được vài buổi ở Sài gòn và Mỹ Tho rồi không thấy được chiếu ở đâu nữa. Cuối năm 1939, Nguyễn Tấn Giầu lại bắt tay làm tiếp phim truyện hài Lão Thầy Pháp Râu Đỏ và phim tài liệu Ðèo Ngang Tức Cảnh. Cả hai phim này đều chung số phận "chết yểu" như bộ phim trước. Dầu sao cũng cần ghi nhận rằng: Qua những bộ phim của mình, Nguyễn Tấn Giầu có ý định phê phán xã hội Việt Nam đương thời như việc ép duyên, mê tín dị đoan v.v...
    Ðến đây có thể nói đã chấm dứt giai đoạn khởi đầu của điện ảnh Việt Nam bắt đầu từ buổi chiếu phim tại Hà Nội ngày 28. 4. 1899 cho đến 3 bộ phim chết yểu của hãng Việt Nam phim vào năm 1939. Ðiều đáng chú ý là đến năm 1940, số lượng rạp chiếu bóng ở Việt Nam đã vượt quá con số 60, trên dân số lúc đó là 20 triệu người, chủ yếu tập trung vào các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Huế. Ðiện ảnh không còn xa lạ với người dân đô thị Việt Nam. Lẽ ra trước sự hâm mộ của đông đảo khán giả đối với bộ môn nghệ thuật mới mẻ này, nền sản xuất phim Việt Nam đã có thể có những bước tiến mạnh mẽ hơn. Tiếc rằng điều đó đã không xảy ra. Một mặt vì sự non kém, thiếu học hỏi chuẩn bị đến nơi đến chốn của những người làm phim Việt Nam, một mặt do chính quyền thực dân Pháp cũng không khuyến khích, thậm chí còn kiềm chế để giành lợi thế cho các công ty kinh doanh phim, nhập khẩu phim mà chủ là những người Pháp. Một số rạp chiếu phim còn bị chính quyền thực dân đe doạ không cho nhập phim nước ngoài nếu chiếu phim do người Việt Nam sản xuất. Dầu sao trong quãng thời gian từ 1924 1939, người Việt Nam đã sản xuất được một số phim.
    Nghệ sỹ Vĩnh Lộc cũng là một người nặng lòng với phim ảnh trong thập niên 1940. Ông tên thật là Nguyễn Văn Bé, sinh năm 1926 tại Đức Nghĩa, Phan Thiết. Vì ưa thích tự do và ca hát nên dù 17 tuổi đã đậu Primaire, ông vẫn không thích vướng vào nghiệp quan trường. Thời Pháp thuộc, tại Phan Thiết đã nở rộ điện ảnh với hai cuốn phim trắng đen do vợ Phạm Ngọc Thìn là cô Bê đóng chung với các tài tử Duy Chánh, Mai Hiếu và Lê Quỳnh.
    Đó là những tư liệu quý thời điện ảnh Việt còn phôi thai, những người làm nghệ thuật cũng như tài tử đóng phim còn rất xa lạ với nghệ thuật thứ bảy. Những phim nói trên trôi nổi ở đâu, nếu còn, chắc chỉ có thể ở trong tay các nhà sưu tập tư nhân?!
    Các hãng phim hay nói đúng hơn là các nhóm làm phim, chỉ hoạt động được một thời gian ngắn vì thiếu vốn đầu tư, thiếu kỹ thuật, bị các nhà tư sản Pháp độc quyền mạng lưới chiếu bóng và chính quyền thuộc địa gây nhiều khó khăn. Sau năm 1940, quân Nhật tiến vào Đông Dương, người Việt Nam không còn ai đứng ra làm phim. Các rạp chỉ chủ yếu chiếu phim Nhật và các nước đồng minh của Nhật.
    1945-1954
    Ngay từ những ngày đầu giành lại được độc lập, mặc dù phải gặp rất nhiều khó khăn, nạn đói năm 1945 hoành hành, nền kinh tế bị kiệt quệ bởi chính sách bóc lột của Nhật và Pháp, Chính phủ lâm thời Việt Nam vẫn cố gắng xây dựng được một bộ phận cho Điện ảnh và Nhiếp ảnh. Mặc cho phương tiện, máy móc thiếu thốn, chiến sự bùng nổ, hoạt động điện ảnh vẫn không vì thế mà đình trệ, một số thước phim tài liệu ngắn ghi lại những thời khắc lịch sử như: Hồ Chủ Tịch Từ Pháp Trở Về (1946), Trận Đánh Tại Ô Cầu Dền (1946)… Nền điện ảnh còn trẻ trung non kém của nước Việt Nam ra đời như thế đó, nhưng nó đã đánh một dấu mốc lịch sử quan trọng trong sự hình thành một nền điện ảnh Cách Mạng về sau này.
    Đầu năm 1953, trên đà thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tình hình điện ảnh của chúng ta đã có những bước phát triển đáng kể và đây cũng chính là thời gian chín muồi để có thể thành lập một tổ chức điện ảnh có tính chất toàn diện trên cả nước. Vào ngày 15/3/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập ngành Điện ảnh Cách Mạng Việt Nam tại chiến khu Việt Bắc. Từ đó, ngày này cũng chính thức được coi là ngày khai sinh ra nền điện ảnh dân tộc. Chiến khu Đồi Cọ tại Thái Nguyên, nơi làm việc của phòng Điện ảnh - Nhiếp ảnh, đã trở thành cái nôi của điện ảnh Việt Nam, nơi đã sản sinh ra những lão thành cách mạng Điện ảnh như Nghệ sĩ nhân dân Phạm Văn Khoa, Nghệ sĩ nhân dân Bùi Đình Hạc, đạo diễn Khắc Lợi, cùng các nghệ sĩ khác. Mặc dù vào thời điểm đó, hoạt động điện ảnh đã nhộn nhịp hẳn lên, nhưng cũng chỉ dừng lại ở những phim tài liệu ngắn chứ chưa thể làm được những bộ phim truyện nhựa, do thiếu thốn trang thiết bị kỹ thuật, máy quay phim. Và đặc biệt, đối với những phim có tiếng động, cũng có thời gian chúng ta phải mang những thước phim âm bản ra nước ngoài để tráng. Từ Trận Mộc Hóa (1947) đến phim Chiến Thắng Điện Biên Phủ (1954), chính là giai đoạn phim tài liệu thời sự hình thành và phát triển. Nó phản ảnh sắc sảo và hùng hồn cuộc sống và sự chiến đấu của quân và dân Việt Nam chống lại thực dân Pháp. Tuy nhiên, vì trang thiết bị còn nghèo, cùng với những đặc thù chiến tranh, cho nên trong khoảng thời gian này, các nghệ sĩ điện ảnh của nước ta vẫn chưa thể cho ra đời những phim truyện nhựa, vốn là nền tảng và là xương sống của điện ảnh dân tộc. Mặc dù chưa có nhiều kinh nghiệm bản thân, nhưng những nghệ sĩ làm phim truyện nhựa lại có thể rút tỉa và trau dồi khá nhiều kiến thức, thông qua việc nghiên cứu và nhận xét các bộ phim nước ngoài, cùng với sách vở báo chí về điện ảnh, nhất là nguồn phim từ các nước bạn Liên Xô, Ba Lan, Cộng Hòa Dân Chủ Đức, Trung Quốc… Chính trong giai đoạn này, những dự định, những ước mơ làm được một bộ phim truyện vẫn nung nấu trong tâm khảm của các người làm công tác điện ảnh, là bước đệm vững chắc để làm nên những tác phẩm để đời.
    Trong thập niên 1950, nhất là năm 1953, điện ảnh đã là mối quan tâm của nhiều nhà tư sản và được quần chúng yêu thích. Tại các thành thị, mạng lưới các rạp chiếu bóng do người Pháp và Hoa kiều làm chủ, tiếp tục chiếu các phim do Pháp và các nước đồng minh sản xuất.
    Mãi cho đến năm 1953, mới có người đứng ra làm phim thương mại trở lại. Cuốn phim ra đời trong giai đoạn mới này cũng do một người đang kinh doanh hoạt động cải lương: Bầu Long của đoàn cải lương Kim Chung, Hà Nội. Ông dẫn đào kép qua Hồng Kông quay phim Kiếp Hoa đem về chiếu từ Bắc vào Nam, hốt bạc khá nhiều! Tóm lại, chính nhờ người của cải lương mở đầu cho nền điện ảnh, mà, một số tư nhân khác cũng rủ nhau bỏ vốn, mời đạo diễn và quay phim Hồng Kông về làm được một số phim truyện như Nghệ Thuật Và Hạnh phúc, Phạm Công- Cúc Hoa... nhưng cũng như Cánh Đồng Ma, Trận Phong Ba thời Pháp thuộc trước đây, đều bị lệ thuộc vào các thành phần sáng tác chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước ngoài, nên không có tiếng vang trong và ngoài nước. Một thế hệ diễn viên thời này đa phần là từ những đoàn hát hoặc ca sỹ như Phùng Há, Ái Liên, Kim Chung, Kim Xuân, Bích Hợp…


    [you] hãy bấm vào đây
    Tò mò quá, bấm đi chứ, không là

    LIÊN HỆ: Click vào đây để chat qua Yahoo với smartboy16187

  12. 2 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới Sonkeyboard cho bài viết hữu ích này:


  13. #7
    Manager
    Sonkeyboard's Avatar
    Ngày tham gia
    18-03-2010
    Đang ở
    TP Vinh - Nghệ An
    Bài viết
    4,026
    Thanks
    14,943
    Được THANKS 24,942 lần
    1954- 1960

    Sau năm 1954, đất nước bị chia cắt. Tại miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, đã hình thành một nền điện ảnh Cách Mạng tuyệt vời và rất phổ thông trong quảng đại quần chúng. Một nền điện ảnh trẻ tuổi với đặc điểm có tính chiến đấu cao, sáng tạo hiện thực xã hội và tính dân tộc rõ ràng, chỉ trong một thời gian ngắn đã xây dưng được nhiều hình tượng con người Việt Nam, có tính Đảng và tính nhân dân sâu sắc như đường lối văn nghệ mà Đảng Cộng Sản đã đề ra.
    Ở Miền Nam, điện ảnh chủ yếu là giấc mơ của giới thanh thiếu niên thành thị. Khi người Mỹ chính thức lún sâu vào Đông Dương bằng chiến lược thực dân hóa kiểu mới, bằng thủ đoạn đem tiền bạc và vũ khí đổ vào Việt Nam, thì họ còn đem theo một phần của một nền kỹ thuật mới mẻ mang âm hưởng Mỹ và đồng minh về phim ảnh. Xã hội Việt Nam, từ trước tới nay, là một xã hội nông nghiệp, kỹ thuật không cao….Còn ngành điện ảnh, với kỹ thuật cao và tốn kém, cần thời gian để phát triển và khắc phục. Những năm đầu tiên của thời kỳ này (1954- 1960), điện ảnh Sài Gòn chủ yếu nằm trong tay Phòng Điện ảnh thuộc Nha Tâm lý chiến Sài Gòn, chuyên làm phim thời sự, phóng sự tuyên truyền cho quân đội Ngụy tại Sài Gòn. Cũng có rất nhiều hãng phim tư nhân nhưng hoạt động nhỏ, không đoàn kết và sản xuất chính là phim thương mại, phim hay thì ít mà phim bị chê thì nhiều…Hầu hết các phim chiếu rạp đều là phim của các nước tư bản Âu Mỹ, rồi phim Nhật, Trung Hoa, Hồng Kông, Đại Hàn….Các hãng nhập phim để cung cấp cho hơn 51 rạp chiếu bóng hoạt động nhộn nhịp tại Sài Gòn - Chợ Lớn và một số tỉnh thành lớn khác như Tây đô (Cần Thơ), Bạc Liêu….
    Tuy vậy, cũng có những người yêu nghề, hy sinh cho điện ảnh như Tống Ngọc Hạp, Lê Dân, Hoàng Anh Tuấn, Hoàng Vĩnh Lộc..., để ít nhiều gì, Điện ảnh miền Nam với những Thu Trang, Xuân Dung, Kiều Chinh…. đ ư ợc có mặt tại các Festivals lớn ở Á Châu.
    Năm 1955, Phòng Điện ảnh Ngụy được thành lập, đến năm 1959 Trung tâm Quốc gia Điện ảnh thuộc Nha Thông tin (sau thành Bộ Thông tin của Ngụy quyền Sài Gòn) ra đời, với một đội ngũ những người làm phim gồm 19 đạo diễn, 13 quay phim, 5 chuyên viên thu thanh và 2 chuyên viên dựng phim. Đa số những người này được cố vấn Mỹ dạy tại chỗ hoặc đi tu nghiệp ở nước ngoài hai năm (1957 - 1959), bên cạnh đó mời chuyên gia của Philippines đến Sài Gòn hợp tác với một số hãng tư nhân thực hiện những phim tuyên truyền, sặc mùi phản động, chống phá cách mạng….
    Các hãng phim tư nhân thì tập trung sản xuất loại phim tâm lý xã hội, cổ tích và các đề tài gia đình, tâm lý, truyền thuyết nặng về giải trí…Trung tâm Điện ảnh chính là nơi đào tạo những chuyên viên điện ảnh đầu tiên của miền Nam.
    Rạp chớp bóng, mỗi ngày thường chiếu theo xuất, thứ bảy có xuất chiều, chủ nhật thêm xuất sáng. Phim tình cảm Pháp thịnh hành nhất trong giai đoạn này. Dân trí thức thành thị bị ảnh hưởng lối sống và phong cách Pháp. Sau đó là phim cao bồi Mỹ và phim Ấn Ðộ ca múa. Rạp thường bắt đầu mở nhạc quyến rũ khách đi xem. Tiếng hát của Paul Anka, Andy William, Elvis Presley, Patti Page... văng vẳng.
    Điện ảnh chủ yếu dành cho giới thành thị. Giai đoạn này, nghệ sỹ cải lương mới là số 1 vì cực thịnh, nổi tiếng và “tiền vào như nước” nếu nổi danh.
    Ở miền Nam, các hãng phim tư nhân đua nhau mọc lên và sản xuất đa phần các phim thương mại. Các hãng phim đáng kể như: Tân Việt, Việt Thanh, Mỹ Vân, Văn Thế, Trường Sơn, Đông Phương, Liên Hiệp, Viễn Đông, An Pha, Hương Bình…Phong trào tư nhân thành lập hãng phim rầm rộ nhất là vào giai đoạn 1955-1958. Nổi bật nhất trong phong trào làm phim thời này là các hãng Việt Thanh (thành lập năm 1955), Văn Thế (1956), Tân Việt điện ảnh (thành lập năm 1957 do ông Bùi Diễm làm giám đốc). Đây là giai đoạn nở rộ phong trào làm phim cải lương, thần thoại, truyền thuyết, với nhiều bộ phim khơi gợi lòng tự hào của người Việt trong việc ủng hộ phim do người Việt làm ra. Một thế hệ diễn viên thi nhau đua tài, đa sắc như: Lê Thị Nam (phim Đồng Ruộng Miền Nam, 1958), Kim Cương (phim Lòng Nhân Đạo, Ngọc Bồ Đề), Trang Thiên Kim (phim Mục Liên Thanh Đề, Trương Chi…), Kim Lan (phim Người Mẹ Hiền…), Thu Trang (phim Lục Vân Tiên), Mai Trâm (phim Chúng Tôi Muốn Sống), Khánh Ngọc (phim Ràng Buộc, Ánh Sáng Miền Nam…), Xuân Dung (phim Kim Trai Thời Loạn), Kim Hoàng (phim Tiền Thân Đức Phật Tổ), Thiên Kim (phim Huyền Trân Công Chúa), Túy Phượng (phim Thạch Sanh Lý Thông), Bích Sơn, Kiều Hạnh, Tuyết Anh, Bạch Xuyến, Huỳnh Thanh, Giáng Hương…Những bộ phim thi nhau ra đời và được sản xuất đến mức chóng mặt. Do điều kiện trong nước yếu kém về mặt kỹ thuật nên đa số những phim trắng đen, 35 ly, nếu muốn tạo được sự chuẩn mực về kỹ thuật đều phải thâu thanh tại nước ngoài. Năm 1957 là năm điện ảnh miền Nam hoạt động mạnh mẽ nhất. Chỉ trong năm 1957, các hãng phim tư nhân đã sản xuất hơn 37 phim, và trong đó có 15 phim được trình chiếu tại miền Nam.Thành công nhất về mặt doanh thu những năm 1954-1957 của phim Việt Nam thuộc về phim Quan Âm Thị Kính. Hãng Việt Thanh sản xuất nhiều phim nhất.
    Giai đoạn 1954-1960, nữ nghệ sỹ Kim Cương là người đã đạt kỷ lục tham gia nhiều phim và cũng là gương mặt nữ ăn khách nhất. Trang Thiên Kim cũng là một trong những diễn viên được các nhà làm phim săn đón.
    Cuối năm 1957, hãng Mỹ Vân tung ra bộ phim Người Đẹp Bình Dương trình chiếu vào dịp Noel và mừng năm mới 1958 với chiếc lược quảng cáo rất sôi động. Ngay lập tức, bộ phim đã thu hút được sự hưởng ứng của đông đảo khán giả và giới thiệu một gương mặt minh tinh Điện ảnh miền Nam trong tương lại: Nữ nghệ sỹ Thẩm Thúy Hằng.
    Cũng trong giai đoạn này, đạo diễn Lê Dân và hãng phim Tân Việt vừa quay xong bộ phim Hồi Chuông Thiên Mụ, để kịp trình làng một trong những gương mặt diễn viên khả ái nhất của nền điện ảnh miền Nam: Kiều Chinh.
    Ngoài đạo diễn Lê Dân, thời kỳ này còn có Tống Ngọc Hạp, Thái Thúc Nha…
    Hãng phim và công ty Kim Chung thắng lớn nhờ phim Kiếp Hoa. Tuy nhiên phải nói trắng ra, nhờ có Kim Chung và Kim Xuân đóng, mà phim Kiếp Hoa bấy giờ được xem là phim nội địa hay nhất, thu vào trên 5 triệu đồng tại Sài Gòn. Dưới thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, 5 triệu đồng lớn lắm, nên nhờ đó mà phát huy ra bảng hiệu Kim Chung cho tới sau này (Phim Kiếp Hoa cứ chiếu lai rai, và có chiếu lại một lần nữa vào khoảng năm 1974, chủ yếu dành cho những người hoài cổ, yêu mến và muốn tìm xem lại những kỷ niệm xưa về Hà Nội).
    Số lượng phim ngoại nhập vào Sài Gòn từ 1954 - 1960 lên tới 1.850 bộ, trong đó phim Mỹ chiếm tới 85 - 90%. Vào năm 1962, phim Mỹ chỉ còn đạt được 15,4%, trong khi phim chưởng Hồng Kông và tâm lý xã hội loại "sướt mướt" của Đài Loan lên tới 40,8%. Phim của các nước khác cũng được yêu thích trong thời kỳ này là phim ca vũ nhạc thần thoại Ấn Độ, phim hiệp sĩ của Nhật Bản.
    Cuối năm 1957, phong trào sản xuất phim bị chìm xuống một cách đáng ngại. Con số 39 nhà sản xuất phim chỉ còn 9 hãng hoạt động cầm chừng, mỗi năm sản xuất một hai phim không có giá trị, nguyên nhân phim làm ra trình chiếu lỗ, vốn ít, chính sách thuế…Trong số 120 rạp chiếu bóng tại miền Nam, thì 10 rạp tốt đều tập trung tại Sài Gòn. Nếu như một năm, miền Nam sản xuất được 28 phim (thời kỳ cực thịnh của 1957-1958), thì nhập trên dưới 500 phim. Phim ngoại nhập thao túng nền điện ảnh Việt.

    Năm 1960-1970

    Năm 1958- 1961 là giai đoạn bi kịch của điện ảnh thương mại miền Nam. Phim làm ra thua lỗ, mọi sản xuất bị đình trệ, không ai dám làm phim. Đỉnh cao của sự tê liệt là vào cuối năm 1960. Mọi sản xuất bị ngưng hẳn, thiếu vốn, phim làm ra lỗ, không cạnh tranh lại phim ngoại nhập. Báo chí chuyên về thời kỳ này không còn mặn mà ủng hộ phim Việt. Vì cạnh tranh hoặc để bán báo, các tạp chí như Kịch Ảnh, Màn Ảnh Sân Khấu, Điện Ảnh…đua nhau đăng bìa hình các ngôi sao Mỹ, Nhật, Hoa hoặc Anh, Pháp, Ý.
    Ngày 11 tháng 11 năm1960, quân đội nhảy dù bao vây Dinh Độc Lập, nổ súng vào chính quyền Ngô Đình Diệm. Cuộc đảo chính của Nguyễn Chánh Thi, Dương Văn Đông không thành công nhưng nó báo hiệu ngày tàn của chế độ. Sau 7 năm cầm quyền, Nhà Ngô tỏ ra không có tinh thần dân chủ và đi tới chế độ gia đình trị, có thể cũng do tình hình trong nước tới lúc gay go hơn trước. Phim do bộ máy ngụy quyền sản xuất thời kỳ này là những cuốn phim phản động, đề cao tinh thần tố Cộng mà chính quyền bù nhìn miền Nam tập trung tuyên truyền. Chính quyền Ngô Đình Diệm cho xây dựng Trung Tâm Điện Ảnh và ít nhiều đây cũng là nơi đào tạo ra những chuyên viên điện ảnh đầu tiên của miền Nam. Các phim của Trung Tâm Điện Ảnh là những cuốn phim thời sự, phim tài liệu, làm công cụ cho việc tuyên truyền của chính quyền nhà Ngô như: Phim về tháp tùng các phái đoàn Chính Phủ đi thăm Ấp chiến lược, phim ca ngợi lối sống “tự do” của miền Nam…..
    Các nhà sản xuất tư nhân thiếu vốn lớn để trang trải các món chi tiêu khổng lồ trong đó phần chi phí về tư liệu, máy quay hình, thu thanh, ánh sáng là tốn kém nhất. Trước tình thế như vậy, những người có tâm huyết như nhóm “Bọn trẻ” của Nguyễn Long và Hoàng Anh Tuấn, đã cùng bạn bè góp vốn làm phim. Và Nguyễn Long với Mưa Lạnh Hoàng Hôn đã ra đời. Bộ phim dài 100 phút chiếu này đã giới thiệu gương mặt diễn viên Mai Ly, Hoàng Anh Tuấn thì có Trời Không Muốn Sáng… Để cạnh tranh với làn sóng phim Ấn độ, phim Nhật và phim ca nhạc Hoa. Các nhà làm phim thời kỳ này như Thái Thúc Nha đã điện ảnh hóa cải lương bằng những bộ phim như Oan Ơi Ông Địa (Thẩm Thúy Hằng đóng chính), Bẽ Bàng (Kim Cương đóng)…Nhưng cũng do làm vội và trình độ kỹ thuật yếu kém, nên 2 bộ phim này lại cũng bị các nhà phê bình và báo chí chê bai.
    Năm 1962- 1963, nền điện ảnh miền Nam có dấu hiệu “hồi sinh” trở lại với nhiều hãng phim mới và những dự án làm phim. Các phim thời kỳ này bắt đầu áp dụng kỹ thuật phim màu đơn. Tiên phong trình chiếu trong dịp Xuân như Mưa Rừng của hãng Alpha (do Kim Cương, Kiều Chinh đóng chính), khởi quay cũng phim màu là Đôi Mắt Người Xưa (do Thanh Nga đóng chính). Kịch sĩ Năm Châu và đạo diễn Lê Mộng Hoàng làm phim Tơ Tình do hãng Mỹ Vân sản xuất (Thẩm Thúy Hằng, Mai Ly và nữ ca sĩ Thanh Thúy diễn chính). Sau thành công mạnh về doanh thu của Tơ Tình, hãng Mỹ Vân bắt tay vào sản xuất tiếp phim Bóng Người Đi (Đoạn Tuyệt). Phim Bóng Người Đi do Thẩm Thúy Hằng đóng cặp với Thành Được, Út Bạch Lan.
    Nhân đây, có vài dòng nhắc đến bộ phim Đôi Mắt Người Xưa. Phim này được làm rất tốn kém, kéo dài đến hơn 3 năm (1962-1964), với việc thay đổi vai diễn, diễn viên, thâu âm, thâu tiếng bên nước ngoài. Đây là bộ phim đầu tiên mà Thanh Nga bước chân vào điện ảnh. Tuy nhiên phim mà cô trình làng đầu tiên với khán giả lại là Hai Chuyến Xe Hoa trình chiếu đầu năm 1963. Những bộ phim đáng chú ý trong giai đoạn này là: Loạn, Yêu (1964), Dang Dở (1965), Từ Sài Gòn Đến Điện Biên Phủ (hợp tác Đài Loan -Việt Nam, 1966), Giã Từ Bóng Tối (1969), Trai Thời Loạn (1969), Loan Mắt Nhung (1969)…Ngoài Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương, Kiều Chinh, Thanh Nga…Thời kỳ này, điện ảnh miền Nam ghi nhận thêm những tên tuổi như :Kim Vui, Mộng Tuyền, Thảo Sương, Kim Xuân, Thanh Lan, Thiên Trang, Ngọc Minh...
    Vào năm 1963, những hãng phim muốn có những nhạc cảnh hoặc các bài ca để cho vào phim của họ thì họ tìm đến Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Huỳnh Anh... Cho tới lúc này, Phạm Duy, Huỳnh Anh là những gương mặt nhạc sĩ đã liên tục soạn nhạc cho phim khá thành công. Hãng Mỹ Vân tại Saigon mời Phạm Duy soạn hai nhạc cảnh với kịch bản của kịch sĩ Năm Châu. Ðó là nhạc cảnh Chức Nữ Về Trời, và Tấm Cám… Phần hát của hai nhạc cảnh này do các ca sĩ Hoài Trung, Thái Thanh trong ban Thăng Long thu giọng, để cho các tài tử La Thoại Tân, Thẩm Thúy Hằng diễn trong phim với kỹ thuật ''nhép miệng”
    Năm 1966, tại Đại hội điện ảnh Á Châu lần thứ 13, nữ diễn viên Xuân Dung đã được trao tặng giải thưởng nữ Diễn viên Xuất sắc nhất với vai diễn trong phim Đôi Mắt Người Xưa do hãng Liêm Phim sản xuất. Đây là một vinh dự lớn vì Xuân Dung là diễn viên điện ảnh miền Nam đầu tiên đoạt được giải thưởng lớn về điện ảnh trên trường quốc tế.
    Đạo diễn làm phim nhiều và sung sức nhất của giai đoạn này là đạo diễn Lê Mộng Hoàng. Chỉ tính từ bộ phim đầu tay của ông là Bụi Đời, cho đến năm 1964, ông đã liên tục có: Vụ Án Tình, Con Gái Chị Hằng, Đò Chiều, Đôi Mắt Huyền, Quê Mẹ, Nhạc Lòng Năm Cũ, Tơ Tình…Các đạo diễn khác: Tôn Thất Cảnh, Thân Trọng Kỳ, Nguyễn Văn Liêm, Lưu Bạch Đàn…


    [you] hãy bấm vào đây
    Tò mò quá, bấm đi chứ, không là

    LIÊN HỆ: Click vào đây để chat qua Yahoo với smartboy16187

  14. 2 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới Sonkeyboard cho bài viết hữu ích này:


  15. #8
    Manager
    Sonkeyboard's Avatar
    Ngày tham gia
    18-03-2010
    Đang ở
    TP Vinh - Nghệ An
    Bài viết
    4,026
    Thanks
    14,943
    Được THANKS 24,942 lần
    1970- 30/4/1975
    Tháng 11-1969, sau một thời gian dài bị phim ngoại lấn chiếm, bộ phim màn ảnh rộng màu đầu tiên Chân Trời Tím của đạo diễn Lê Hoàng Hoa do Trung tâm Điện ảnh Sài Gòn sản xuất, đã mở đầu cho thời kỳ "hưng thịnh" của điện ảnh Sài Gòn trước 1975. Từ bộ phim này, ca khúc chính trong phim- “Nửa Hồn Thương Đau”- được yêu thích và vang xa ra khỏi lĩnh vực điện ảnh. Từ năm 1970, số lượng phim sản xuất được tăng nhanh, năm 1970 có 6 bộ, năm 1971 lên tới 24 bộ..., đỉnh cao là năm 1972 tới 29 bộ. Nhiều phim chiếu ra đông người xem, có thể cạnh tranh với phim ngoại như: Chiều Kỷ Niệm (đạo diễn Lê Mộng Hoàng, Trung tâm điện ảnh Sài Gòn sản xuất năm 1970), Loan Mắt Nhung (đạo diễn Lê Dân, 1970) và các phim khác như Như Hạt Mưa Sa, Như Giọt Sương Khuya, Giã Từ Bóng Tối, Nhà Tôi (1972), Xin Đừng Bỏ Em (1973)... Đây là những bộ phim có sự đầu tư về tâm lý nhân vật, khai thác thân phận của con người trong trường tình, trong chiến tranh... Bên cạnh đó, cũng có loạt phim phục vụ cho đường lối chính trị của chính quyền ngụy như ca ngợi lính Cộng Hòa, "chống Cộng", chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", mà tiêu biểu nhất là của đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc như Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương (1968), Người Tình Không Chân Dung (1971), Người Về Từ Đỉnh Núi, Con Búp Bê Nhồi Bông... Những phim này không thu hút được người xem vì cốt truyện và cách xây dựng nhân vật đơn giản, thô lậu. Ngoài ra, những loạt phim vô thưởng vô phạt nhằm mục đích thương mại như cổ tích, cải lương, tâm lý xã hội..., vẫn chiếm một tỷ lệ khá cao, 27 phim trong hai năm 1971 và 1972, 8 phim trong năm 1973...
    Cuối thập niên 1960, trong khi cải lương ngày một sa sút, thì lĩnh vực điện ảnh lại phát triển mạnh, hơn 30 hãng phim có môn bài hoạt động, và đây là thời kỳ cực thịnh của giới làm phim, đã làm giàu cho một số người biết kinh doanh nghệ thuật. Điện ảnh thương mại thời kỳ này có nhiều chuyển biến tốt. Các hãng phim đã biết thành lập theo hướng nhìn xa trông rộng, đội ngũ chuyên viên học nước ngoài và trong nước phát triển. Sự hợp tác và tìm đối tác với các nước trong khu vực được các hãng quan tâm…Phong trào sản xuất phim từ từ vượt qua những giai đoạn khủng hoảng (1959-1966) để phát triển mạnh mẽ trở lại. Năm 1969, ngụy quyền cho phép phim ngoại nhập cảng thả dàn, bộ thông tin ngụy tiếp tay với tư sản Hoa kiều dành nhiều ưu đãi cho phim Trung Hoa, nhưng điện ảnh và những dự án làm phim vẫn tiếp tục phát triển mạnh. Số đông đào kép cải lương phải tìm nghề khác sống tạm chờ thời. Hùng Cường, Út Bạch Lan, Thành Được, Bạch Tuyết, Thanh Tú…gia nhập làng điện ảnh. Đây là giai đoạn không chỉ nghệ sỹ cải lương mà các ca sĩ, diễn viên kịch nói, cũng “lấn sân” sang phim ảnh hùng hậu nhất, như:Bạch Tuyết (Như Hạt Mưa Sa, Như Giọt Sương Khuya, Lan Và Điệp, Con Ma Nhà Họ Hứa…), Băng Châu (Trần Thị Diễm Châu), Bạch Liên (Men Tình Mùa Hạ, Hoa Mới Nở), Như Loan (Đời Chưa Trang Điểm), Phương Hồng Ngọc (Nắng Chiều, Nàng), Phương Hoài Tâm, Thanh Lan (Tiếng Hát Học Trò, Trường Tôi) Trang Thanh Lan (Xa Lộ Không Đèn), Ngọc Đan Thanh (Quái Nữ Việt Quyền Đạo), Mai Lệ Huyền (Gác Chuông Nhà Thờ, Ly Rượu Mừng), Tuyết Lan (Trường Tôi), Kiều Phượng Loan, Bạch Lan Thanh, …
    Từ năm 1970 trở đi, Điện ảnh miền Nam Việt Nam liên tục cử nhiều phái đoàn đi dự các liên hoan phim Quốc tế tại Tây Đức, Ấn Độ, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Campuchia…Phim giải trí thực sự “trăm hoa đua nở” với thành công về mặt tài chính của Chiều Kỷ Niệm, Chân Trời Tím, Loan Mắt Nhung, Như Hạt Mưa Sa, Như Giọt Sương Khuya…Chính quyền ngụy tại Sài Gòn đã biết quan tâm đến nền điện ảnh non trẻ trong nước. Giải thưởng điện ảnh ra đời năm 1970, có nhiều dự án xin phép xây dựng phim trường của Mỹ Vân, Cosunam phim, Việt Nam Phim, Giao Chỉ phim…Từ cuối năm 1969, các nhà làm phim tại Sài Gòn đã sản xuất phim màu. Hai bộ phim màu được đầu tư mạnh ở phần thực hiện là Chân Trời Tím của Liên Ảnh công ty và Người Tình Không Chân Dung của Giao Chỉ Phim. Hai bộ phim này là phim màu đại vỹ tuyến, đều in rửa ở nước ngoài. Nước mà các nhà sản xuất phim Sài Gòn thường chọn mặt gởi vàng thời bấy giờ là Nhật Bản. Năm 1972, việc sản xuất phim màu được chính thức xem là “mốt” du nhập Việt Nam.Chính phủ miền Nam phê duyệt văn thư miễn thuế nhập cảng phim màu cho giới sản xuất, tạo điều kiện cho sự hợp tác, phân bổ hợp lý việc sản xuất và chiếu phim.
    Liên tiếp các năm 1971, 1972, 1973, 1974 ở các kỳ liên hoan phim trong khu vực, Việt Nam đều gặt hái được những giải thưởng tôn vinh Kiều Chinh, Thanh Nga, Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương…
    Giai đoạn này, điện ảnh miền Nam đã biết “khẩu vị” của khán giả nên thay đổi rất linh động. Phim Con Ma Nhà Họ Hứa là bộ phim thuộc đề tài kinh dị đầu tiên của điện ảnh Việt Nam đã thắng lớn về doanh thu. Các bộ phim như Sau Giờ Giới Nghiêm, Xa Lộ Không Đèn, Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang, Mãnh Lực Đồng Tiền…thành công là nhờ biết khai thác thế giới của các tay anh, chị, giới giang hồ, giới vũ nữ…, hoặc những phim theo thể loại hài, vui nhộn như Năm Vua Hề Về Làng, Tứ Quý Sài Gòn, Sợ Vợ Mới Anh Hùng luôn được đông đảo khán giả bình dân ủng hộ và cháy vé….Ngoài ra, các diễn viên và các nhà làm phim đã biết tìm kiếm đối tác, hợp tác với các nhà sản xuất trong khu vực như: Thẩm Thúy Hằng đóng phim hợp tác (phim Sóng Tình với Đài Loan, Vàng với Thái Lan…) .Thời kỳ phát triển và sung sức này của điện ảnh miền Nam Việt Nam rất gần giống với giai đoạn phát triển của các nhà làm phim tư nhân tại nước ta năm 2005-2006. Nhìn vào đề tài thực hiện cũng như những bộ phim xuất hiện ở hai thời kỳ cách nhau đến hơn 30 năm, ta vẫn thấy những bộ phim ăn khách có chung một điểm về hướng đề tài khai thác.
    ... Trong số này, nhiều phim đề cập tới hiện thực của cuộc sống, ăn chơi, sa đọa, không quan tâm gì đến thời cuộc của lớp trẻ thành thị như: Xa Lộ Không Đèn, Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang, Cô Híp-pi Lạc Loài, Anh Yêu em, Hè 72... Ngoài những dòng phim kể trên, điện ảnh quyền cước võ thuật Hồng Kông phát triển rất mạnh và tấn công như vũ bão, nên cũng có nhiều nhà sản xuất cho thực hiện những phim theo thể loại này như Hận Thù của hãng phim Trung Hoa hợp tác sản xuất với Á Đông phim.. Phim này có sự tham gia rất hùng hậu của các tài danh Việt như: Danh hề Văn Chung, Đức Phú, Ngọc Đức, Út Bạch Lan, Ngọc Đan Thanh, Phương Hồng Ngọc…Các phim khác cũng được thực hiện theo đề tài này như: Long Hổ Sát Đấu, Quái Nữ Việt Quyền Đạo…
    Thời điểm này ghi nhận nhiều đạo diễn có tâm huyết và yêu mến điện ảnh, ngoài Lê Mộng Hoàng, “vua” của phim thương mại. Đây là giai đoạn sung sức nhất của Lê Hoàng Hoa với nhiều thể nghiệm về phim xã hội đen, phim kinh dị cho đến phim hài như Chân Trời Tím, Điệu Ru Nước Mắt, Con Ma Nhà Họ Hứa. Các đạo diễn khác tiêu biểu của thời kỳ này là: Hoàng Anh Tuấn, Bùi Sơn Duân…
    Những ngày cuối năm 1974, phong trào làm phim vẫn cứ sôi động. Lê Hoàng Hoa làm đạo diễn bộ phim kinh dị màu Giỡn Mặt Tử Thần với sự tham gia của Thẩm Thúy Hằng, Phương Uyên…Đạo diễn Lưu Bạch Đàn cùng Thẩm Thúy Hằng lên kế hoạch hợp tác với Nhật Bản quay bộ phim Tình Khúc Thứ 10, Hòn Vọng Phu….Ngày Điện ảnh Việt Nam do ông Thái Thúc Nha làm chủ tịch, diễn ra vào ngày 14/9/1974, đã phát động phong trào phát triển và ủng hộ phim Việt với khẩu hiệu “Người Việt xem phim Việt”…Hãng phim Mỹ Vân xây dựng hoàn chỉnh phim trường lớn cho hãng ở xa lộ Biên Hòa….Dịp tết năm 1975, màn ảnh Sài Gòn vẫn vô cùng nhộn nhịp với hàng loạt các bộ phim đua nhau ra rạp, đầy màu sắc thương mại và chạy theo thị hiếu của khán giả như: Hải Vụ 709 (phim màu, do Việt Ảnh phim sản xuất, thể loại xã hội đen, buôn lậu), Từ Quê Ra Tỉnh (Lido phim sản xuất), Chàng Ngốc Gặp Hên (Vilifilms sản xuất), Sợ Vợ Mới Anh Hùng, Quái Nữ Việt Quyền Đạo, Năm Vua Hề Về Làng, Quái Nữ Sợ Ma, Tam Quái Túc Cầu…Các nhà làm phim của Sài Gòn vẫn bị Ngụy quyền ru ngủ và hứa hẹn một viễn cảnh tốt đẹp cho điện ảnh miền Nam mà không hề biết rằng, cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc, thống nhất đất nước đang đi đến giai đoạn quyết định, sẽ cáo chung một chế độ thân Mỹ và tay sai.

    ĐẠO DIỄN THƯƠNG MẠI:
    Lê Hoàng Hoa là đạo diễn học tại Mỹ. Về nước năm 33 tuổi, hai năm sau, khi Trung tâm Điện ảnh thành lập (1960), Lê Hoàng Hoa đã được giao ngay phim 11 giờ 30 - cuốn phim truyện màn ảnh đại vỹ tuyến đầu tiên của điện ảnh phía Nam. Sau đó, Liên Ảnh công ty đã dám bỏ ra số tiền khổng lồ - 14 triệu đồng để chàng đạo diễn trẻ này làm bộ phim Chân Trời Tím. Bộ phim được quay ròng rã 3 tháng trời, với 100 xe tăng, 45 máy bay trực thăng, 300 xe cơ giới đủ loại, 600 diễn viên chính phụ và đã thu vào 94 triệu đồng, nghĩa là lời gấp gần 7 lần so với số vốn bỏ ra. Phim hài kết hợp võ thuật Triệu Phú Bất Đắc Dĩ cũng thắng lớn, báo chí Sài Gòn hồi đó hân hoan: “Lê Hoàng Hoa đã làm đẹp mặt điện ảnh Việt Nam bằng cách đưa cảnh đánh võ vào phim để diễu phim Tàu một mách” (có thể là hơi “thiên vị”, nhưng thực sự bộ phim này đã qua mặt hàng loạt phim hành động của Tàu, có siêu sao võ thuật Lý Tiểu Long thủ vai chính, về doanh thu). Phim ma Con Ma Nhà Họ Hứa với cốt truyện ly kỳ, hồi hộp đã thu vào 4,5 triệu đồng ngay trong ngày đầu tiên trình chiếu, và lập tức các báo đã gọi Lê Hoàng Hoa là “Hitcock của Việt Nam”. Sau 1975, Lê Hoàng Hoa lại tiếp tục đem lại số thu kỷ lục cho phim Việt Nam suốt từ năm 1981 đến 1987 với 8 tập phim Ván Bài Lật Ngửa (đến bây giờ vẫn là bộ phim tình báo thành công nhất của điện ảnh Việt Nam), nhiều phim khác của ông cũng là những phim thu hút rất đông khán giả.

    DIỄN VIÊN:
    Diễn viên điện ảnh miền Nam Việt Nam trước năm 1975 có hai loại, một loại thường trực và một loại bán chuyên nghiệp. Thường trực gồm Trần Quang, Kiều Chinh, Kim Vui, Huy Cường, Tâm Phan, là những người sống và xem nghề đóng phim là chính. Còn những người bán chuyên nghiệp có show diễn có nhiều việc làm ở các lĩnh vực khác như ca hát, đóng kịch, cải lương như Thanh Nga, Mộng Tuyền, Vân Hùng, Hùng Cường, Thành Được, La Thoại Tân, rất bận rộn, phải sắp xếp việc làm, phải lựa phim vừa ý mới đóng.
    Tại miền Nam Việt Nam lúc đó có quy luật, là mỗi hãng phim, nếu muốn nhập cảng những phim ngoại quốc, thì phải tự sản xuất một phim trong một năm. Nên có người vì kinh doanh đã bỏ ra một mớ tiền, rồi làm sao đó thì làm, miễn ra đại một cuốn phim đem chiếu thôi, không cần hay dở gì hết, lỗ cũng được, miễn cho có để họ nhập cảng được phim. Lê Mộng Hoàng có một cái “tật” là có sao làm vậy. Chẳng hạn như ông lãnh về 1 triệu, gia đình cúp mất 300.000 để xài rồi, chỉ còn có 700.000 để làm phim. Trong khi làm phim, lại bị thất thoát nữa, tổng cộng còn lại có 500.000. Với khoản đó, ông làm theo ý của mình, muốn mời ai cũng được. Ông mời những người không tên tuổi, dù không hợp với vai, vẫn cứ mời, để thực hiện cho được cuốn phim. Vì vậy, điện ảnh rất xuống dốc. Thêm nữa, diễn viên Việt Nam không có học trường nào hết. Chẳng hạn như Trần Quang học trường kịch ảnh của ông Vũ Khắc Khoan, chỉ qua vai Thành Cát Tư Hãn thôi. Chỉ có thể nói đó là được đào luyện qua một vở kịch, rồi có cái tên đó mà thành diễn viên. Chứ thật ra, thấy Trần Quang là thấy Thành Cát Tư Hãn, chứ ngoài vai đó , không thấy gì nữa cả. Anh nói chuyện ngoài đời cũng như diễn xuất cũng gồng người, tồi ria mép, hút thuốc…, nhìn phim nào cũng biết là Trần Quang. Anh đã bị ảnh hưởng, từ cuộc đời đến diễn xuất, đều giống nhau. Nhưng đó cũng là phong cách riêng của anh. Vai diễn mà Trần Quang đóng đạt và nhiều tình cảm nhất lại là phim làm sau ngày nước nhà thống nhất: phim Con Thú Tật Nguyền của đạo diễn Việt kiều Hồ Quang Minh.
    Công bằng mà nói, thì nền điện ảnhViệt Nam bấy giờ, nếu so với điện ảnh Thái Lan, Hồng Kông, Đài Loan, thì hơn Thái Lan, ngang ngửa với Đài Loan. Thời đó, người ngoài nhìn vào Việt Nam với một con mắt rất có cảm tình là vì chiến tranh. Sở dĩ phim Việt Nam nhận được giải diễn viên, giải danh dự, là nhờ họ có cảm tình với Kiều Chinh, Thanh Nga và Kim Cương, chứ không chấm cuốn phim đó về kỹ thuật, về truyện phim. Thực ra thời đó điện ảnh còn mới mẽ, chủ yếu tự năng khiếu bẩm sinh và tấm lòng đam mê để đến với nghề, không ai có diễn xuất hoặc kỹ thuật hết.
    Kiều Chinh rất đẹp, sang vì còn rất trẻ, rạng rỡ. Nối tiếp phim Hồi chuông Thiên Mụ cô được mời đóng rất nhiều phim sau này. Nếu nhận xét Kiều Chinh chỉ diễn theo phong cách lạnh lùng, băng giá, cũng không đúng. Phải nói tùy vai. Như phim Phúc Lạc Hội, Kiều Chinh lột xác dần từ bà mẹ trẻ đến một bà cụ đau khổ. Phải công nhận Kiều Chinh đã rất kiên cường để sống, được làm việc và tồn tại trong làng điện ảnh Mỹ. Trước năm 1975, diễn viên mỗi người một vẻ và ta nên trân trọng họ theo nghĩa “minh tinh” là được khán giả yêu thích và bỏ tiền mua vé xem. Thẩm Thúy Hằng là một diễn viên chỉ dừng lại ở vai trò “Người đẹp diễn tròn vai”. Thẩm Thúy Hằng đóng vai con ở cũng là Thẩm Thúy Hằng. Thẩm Thúy Hằng đóng vai bà đòi nợ cũng là Thẩm Thúy Hằng đi đòi nợ. Đóng vai nhà nghèo cũng là Thẩm Thúy Hằng nghèo…Chứ chưa bao giờ Thẩm Thúy Hằng lột xác được.
    Diễn viên miền Nam trước năm 1975 có nhiều ý kiến cho rằng người diễn xuất được nhất có thể nói là Thanh Nga. Thanh Nga nhập vai và dẫn bạn diễn theo cô, đúng như nhân vật đó. Thí dụ như cô đóng vai cô bán hàng, là đúng cô bán hàng, với tư cách của cô bán hàng. Gái giang hồ đúng là gái giang hồ, hiền thục (sở trường của cô mà) thì đúng là gái hiền trong thời loạn,…Lan ra Lan, Loan ra Loan…Nói chung, Thanh Nga đã lột mình đi, bỏ cái mình ra, để thành công đúng với vai diễn. Song có lẽ do Thanh Nga đã là “ nữ hoàng sân khấu”, đã có quá nhiều thành công trên sàn diễn, nên khán giả không yêu thích cô đóng phim bằng diễn cải lương. Thanh Nga đóng phim “không đã” bắng diễn cải lương.
    Bạch Tuyết đến với điện ảnh nhờ tên tuổi của cô bên cổ nhạc, đóng phim cũng rất thật và là một diễn viên cải lương rất thời trang và luôn hợp mốt. Trong các phim Như Giọt Mưa Sa, Như Giọt Sương Khuya, Thuyền Trưởng, Bạch Tuyết diễn nhõng nhẽo, buồn bã, điên loạn và nóng bỏng rất ấn tượng, rất Bạch Tuyết..
    Còn nói về Hùng Cường, chỉ nói về tên thôi, vì xem phim Nắng Chiều sẽ thấy, Hùng Cường đóng phim như đang diễn tuồng trên sân khấu cải lương, với một gam màu buồn, chẳng có điểm nhấn….
    Lê Quỳnh diễn những vai có tâm trạng, số phận nghiệt ngã và trải đời cũng rất ấn tượng, cái duyên miền Bắc của anh khó ai lẩn lộn và bắt chước được…
    Thành Được thì nghiêm túc quá khi lên màn ảnh. Diễn xuất của anh quá lạnh và thiếu chất “nóng” để thuyết phục người xem. Trong phim hài Năm Vua Hề Về Làng, cách diễn của anh cũng không khác Bóng Người Đi, Chiếc Bóng Bên Đường….
    Vânt Hùng thì quá thành công khi diễn cặp với Kim Cương trong các vở kịch, nhưng khi qua phim ảnh, thì cái chất thư sinh và kịch nghệ của anh đã ăn vào máu mất rồi, khó có thể thay đổi được. Cứ xem Người Cô Đơn anh đóng với Thanh Nga thì rõ nhất.
    Dũng Thanh Lâm đóng phim thật hơn khi cải lương.Anh đúng ra nên là diễn viên điện ảnh hơn sân khấu, bởi vẻ đẹp trai riêng của mình (là con lai), có duyên.
    Huỳnh Thanh Trà thì có đôi mắt buồn rất thành công trong Loan Mắt Nhung. Nhưng sau đó, chẳng để lại ấn tượng gì nhiều trong làng điện ảnh.
    “Kép” Thanh Tú đóng rất nhiều vai chính trong các phim như Trống Mái, Lan Và Điệp…, nhưng các nhà làm phim chỉ khai thác anh ở khía cạnh rất nam tính, thô mộc, thật thà và hiền lành, nhiều hơn là diễn xuất.
    Lý Huỳnh không có gì nổi bật trước năm 1975. Ông được khai thác theo sở trường ở lĩnh vực võ thuật, chứ diễn xuất chẳng có gì ngoài những pha đánh đấm, rặc mùi thương mại ăn theo của phim chưởng Hồng Kông. Lý Huỳnh chỉ thực sự tỏa sáng qua những vai diễn của nền điện ảnh cách mạng trong các phim Mùa Gió Chướng, Ông Hai Củ, Hòn Đất…
    Trường hợp Nguyễn Chánh Tín cũng vậy, chỉ nhờ bộ phim Ván Bài Lật Ngửa, nhân vật của anh đã trở thành huyền thoại trong nền nghệ thuật điện ảnh nước nhà. Trước năm 1975, các nhà làm phim chỉ chú trọng khai thác anh trong lĩnh vực điện ảnh vì “cái mã” bạch diện thư sinh, hớp hồn fan nữ là chính.
    Trước năm 1975, ngoài những trường đạo tạo nghệ thuật diễn xuất như Trường Quốc gia Âm nhạc Sài gòn, ai yêu thích điện ảnh, có thể theo học lớp điện ảnh của đại học Minh Đức. Có nhiều đạo diễn thành danh sau ngày giải phóng từng theo học lớp này như đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn.
    Điện ảnh Sài Gòn hơn 20 năm dưới chế độ của chủ nghĩa thực dân mới, vẫn là bức tranh mờ nhạt chưa thể tạo được diện mạo cho một nền điện ảnh dân tộc với những bản sắc riêng biệt, chỉ có thành công nhất thời là khơi gợi một nền điện ảnh thương mại có tính chuyên nghiệp và đã có những sự hợp tác và liên kết để giành thị phần cho phim Việt giữa các nhà làm phim với nhau, hoặc hợp tác phát triển thị trường tại nước ngoài như Thái Lan, Hồng Kông, Nhật Bản…Nếu như có cơ hội phát triển, điện ảnh thương mại Việt Nam đã có thể tiến xa hơn hoặc chí ít cũng ngang hàng Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan như hiện nay. Đây cũng là một điều đáng tiếc do thời thế và do những giới hạn thuộc về lịch sử.
    Điện ảnh miền Nam Việt Nam thời Mỹ- Ngụy cáo chung vào tháng tư năm 1975. Đất nước ta hòa vào một thể thống nhất để cùng nhau tạo dựng một nền điện ảnh đậm đà bản sắc dân tộc: Điện ảnh Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.


    [you] hãy bấm vào đây
    Tò mò quá, bấm đi chứ, không là

    LIÊN HỆ: Click vào đây để chat qua Yahoo với smartboy16187

  16. 2 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới Sonkeyboard cho bài viết hữu ích này:


  17. #9
    Manager
    Sonkeyboard's Avatar
    Ngày tham gia
    18-03-2010
    Đang ở
    TP Vinh - Nghệ An
    Bài viết
    4,026
    Thanks
    14,943
    Được THANKS 24,942 lần
    Bản sắc dân tộc và sự phát triển của điện ảnh Việt Nam.


    Khó có một dân tộc nào lại không có nền văn hóa mang bản sắc dân tộc của mình.Nền văn hóa đó góp phần tạo nên sức mạnh truyền thống gắn bó và phát triển của cộng đồng.

    Trở lại với ngành điện ảnh của ta,qua gần nửa thế kỷ,ngay từ những bộ phim đầu,nó đã gắn bó với cuộc chiến đấu của dân tộc mà trưởng thành.Qua hàng ngàn phim truyện,phim tài liệu sản xuất trong 40 năm,những phim để lại trong lòng người xem,vẫn là những phim mà tác giả của nó đã sống trong cuộc sống chiến đấu chống xâm lược để sáng tạo.Những người làm phim thời đó đã cố gắng để trở thành người chiến sĩ-nghệ sĩ như lời Bác Hồ dạy.Trình độ tay nghề khi đó chưa cao,kỹ thuật lại thô sơ,nhưng tâm hồn họ thì cháy bỏng.Cuộc sống đầt hào hùng,cho nên,họ đã tạo dựng được những bộ phim có sức sống lâu bền,đầy nhân ái,dung dị,chân thực và cũng đầy quyết liệt trong đấu tranh sinh tồn.

    Ta có thể nhắc tới Chim vành khuyên,Chị Tư Hậu...của thời chống Pháp;Cánh đồng hoang,Bao giờ cho đến tháng Mười của thời chống Mỹ...;những phim tài liệu Điện Biên Phủ,Lũy thép Vĩnh Linh,Đường ra phía trứơc...của một thời chấm ngoại xâm và "bài thơ" đẹp Đường dây lên sông Đà của thời đầu xây dựng đất nước từ bùn lầy,ta đứng lên tỏa sáng.

    Trong chống giặc ngoại xâm,ta đã phải đượng đầu với bao kẻ thù hung hãn,con người được thử thách quyết liệt càng làm nổi rõ bản sắc của mình.Bản sắc văn hóa dân tộc luôn luôn là động lực mạnh mẽ,góp phần làm nền cho dân tộc ta vượt qua bao hy sinh gian khổ để tồn tại và phát triển.Đó chính là phẩm chất cao đẹp của tâm hồn Việt Nam giặc đến nhà,đàn bà cũng đánh.Một thời làm phim của ta hướng vào khí phách anh hùng của dân tộc với Không có gì quý hơn độc lập tự do.Ở những phim có giá trị,nó phản chiếu tâm hồn Việt Nam và được tỏa sáng bởi tính chân thực hào hùng.Đó là nét đẹp cơ bản của bản sắc văn hóa dân tộc với hình tượng trung tâm là "anh bộ đội Cụ Hồ"

    Có thể không nước nào lại gọi người lính bằng cái tên trìu mến như vậy.Vẻ đẹp trìu mến của anh bộ đội Cụ Hồ là sự gắn bó với dân,với nước,quý trọng người già,yêu thương trẻ nhỏ,khiêm tốn,giản dị,nhưng đầy sức mạnh:"Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành,khó khăn nào cũng vượt qua,kẻ thù nào cũng đánh thắng".Hình ảnh người chiến sĩ mũ nan,chân đất,trong những năm tháng gian lao hào hùng đã được mô tả chân thực và xúc động trong một số phim truyện ,phim tài liệu có giá trị.Cho nên,nó đọng lại,tạo nên sự xúc động lâu dài cho người xem,mặc dù việc làm phim khi đó còn thiếu thốn trăm bề.Gần đây,chúng ta đã có điều kiện làm phim tốt hơn,nhưng tại sao vẫn có những phim mô tả những sự kiện lớn lao trong cuộc kháng chiến trường kỳ lại đơn giản,khô cứng,thiếu đi cái hồn của con người và thời đại? Liệu những phim như vậy có thể để lại sự xúc động nào về hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ trong các thế hệ mai sau hay không?.

    Một thời chúng ta đã có phim hay,nhiều nhân vật đọng lại lâu dài trong người xem.Chị Tư Hậu mô tả một phụ nữ nông dân bình dị đã trưởng thành trong chiến đấu gảii phóng,nhưng vẫn đậm đà nét truyền thống dân tộc.Đó cũng là vợ chồng Ba Cô trong Cánh đồng hoang sống đơn độc trên cù lao giữa đồng nước mênh mông.Họ thật nhỏ nhoi,nhưng ởhọ lại có sức mạnh chống trả với bầy trực thăng Mỹ.Đó cũng là nét đẹp nhân hậu,thủy chung ở Duyên trong Bao giờ cho đến tháng Mười.Rồi bé Nga trong Chim vành khuyên,những đứa trẻ trong Mẹ vắng nhà,người công nhân kéo dây trong bùn lầy để xây dựng đất nước ở Đường lên sông Đà...Tất cả hòa quyện với nhau tạo nên nét đẹp truyền thống,mang tâm hồn Việt.Chính vì vậy,nhiều người nước ngoài sau khi xem phim đã hiểu thêm niềm tin sắt đá và sự quật cường của những con người bình thường đã chiến thắng sức mạnh của vũ kkí Mỹ.Một số phim của ta một thời có tiếng vang trên thế giới cũng bởi lẽ như vậy.

    Bản sắc văn hóa dân tộc trong điện ảnh không bao giờ là nệ cổ,khép kín;không chỉ là cảnh cây đa,bến nước đủ để tạo nên bản sắc dân tộc trong phim.Không thể tìm kiếm,chắp vá ở đâu mà trước hết cần phải phản ánh chân thực cuộc sống vào phim với tất cả tấm lòng của người nghệ sĩ.Sức sáng tạo của nó mở ra không ngừng.Người nghệ sĩ cần hòa nhập cuộc sống để làm thăng hoa cuộc sống đó vào phim bằng chính tài năng và tâm hồn mình.Tôi chợt nghĩ tới những bức tranh của một số họa sĩ nước ngoài vẽ các cô gái Việt Nam với tà áo dài và chiếc nón cứ chung chiêng trên đầu cô gái và tà áo cũng không hòa vào người mặt một cách tha thướt,duyên dáng tự nhiên.Điều đó có lẽ người vẽ chưa nhập được cái thần thái bản sắc của dân tộc ta.Nó cũng giống như những phim hợp tác của ta với nước ngoài trước đây,sao cứ ngô nghê dại dại thế nào ấy.

    Trong giai đoạn mới của đất nước chúng ta không thể đề cao sự tăng trưởng kinh tế mà coi nhẹ cái gốc văn hóa dân tộc.Xét cho cùng,mọi đổi mới đều nhằm mang lại tự do,hạnh phúc cho nhân dân.Điều đó không trái gì với truyền thống của dân tộc ta.Nhưng như vậy không cò nghĩ là đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích cộng đồng,tự do phát triển lối sống ích kỷ,tàn bạo,thỏa mãn những thị hiếu thấp kém.Người nghệ sĩ cần tạo ra trong tác phẩm những tư tưởng,tình cảm lớn,nâng đỡ tâm hồn,phẩm chất người xem.Cái nền để tạo những phim hay trước hết cần chân thực bắt vào cái gốc văn hóa dân tộc để thể hiện mọi vấn đề nóng bỏng của cuộc sống.Đó không thể là lấy sự bắt chước,giả tạo để thay cho tâm hồn trống rỗng,lấy lợi nhuận thay cho tài năng.Vài năm qua,khi thị trường rộng mở,phim ngoại tràn vào mà ta không kịp sàng lọc,ngăn chặn.Nguyên nhân một phần vì nền điện ảnh của ta chưa thật bắt chắc vào cái gốc văn hóa dân tộc để tạo nên một thị hiếu lành mạnh trong thưởng thức của người xem.Do đó chưa sàng lọc được hết những bèo bọt của những loại phim xấu.Chỉ khi người xem có một thị hiếu lành mạnh cùng với nền văn hóa xã hội được nâng cao,mới đủ sức ngăn chặn những dòng văn hóa lai căng cùng với những bộ phim thấp kém.

    Ta cần tạo kột nền điện ảnh hiện đại,đậm đà bản sắc dân tộc,hòa nhập với người xem bởi các vấn đề gắn bó với cuộc sống.Chỉ có vậy,người xem mới tin tưởng,cổ vũ và bảo vệ sự nghiệp phát triển nền điện ảnh dân tộc.Cùng với sự tiến hóa về khoa học,kinh tế,ta mong sớm có những bộ phim góp vào sự tién hóa chung nhằm nâng cao phẩm giá,đạo đức trong quan hệ con người với xã hội,con người với thiên nhiên và với bản thân mình.
    (1994)

    Tác giả:Trung Sơn
    Trích từ:Điện ảnh-Chặng đường và kỷ niệm.


    [you] hãy bấm vào đây
    Tò mò quá, bấm đi chứ, không là

    LIÊN HỆ: Click vào đây để chat qua Yahoo với smartboy16187

  18. 2 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới Sonkeyboard cho bài viết hữu ích này:


Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •