Forum Home Your IP: 54.224.17.157

Kết quả 1 đến 5 của 5

Chủ đề: Vài nét về nhạc cung đình Huế

  1. #1
    HungMusic_NT's Avatar
    Ngày tham gia
    11-01-2011
    Đang ở
    ♫ Khánh Hòa ♫
    Bài viết
    4,799
    Thanks
    14,794
    Được THANKS 24,244 lần

    Vài nét về nhạc cung đình Huế

    Triều đại nhà Nguyễn bắt đầu từ năm 1802, khi Nguyễn Phúc Ánh đánh thắng Tây Sơn, lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long và định đô tại thành Phú Xuân (Huế), đặt tên nước là Việt Nam và sáng lập triều đại nhà Nguyễn (1802 - 1945). Triều Nguyễn biết kế thừa truyền thống âm nhạc cung đình của các triều đại trước, phát triển rực rỡ, phong phú hơn cả về đề tài, thể loại, số lượng… Các vua chúa Nguyễn cho xây dựng nhiều đền đài, nhà hát, tổ chức các lễ hội, tuyển mộ nhân tài âm nhạc khắp nơi, tổ chức âm nhạc cung đình. Văn chương, nghệ thuật bắt đầu thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc và giữ được màu sắc riêng của Việt Nam. Những thay đổi trên có tác động lớn không những đối với âm nhạc ở triều nội mà còn có ảnh hưởng đến những hoạt động âm nhạc dân gian ngoài xã hội.
    Triều Nguyễn kế thừa với hai tổ chức được coi là tiêu biểu, đó là: Đồng Văn và Nhã Nhạc, có các quy chế và thể thức nghiêm ngặt trong hoạt động, sinh hoạt cũng như trình diễn dưới triều Lê mà Phạm Đình Hổ, trong “Vũ Trung tuỳ bút” đã ghi: “… Khoảng năm Hồng Đức (1470 - 1497) nhà Lê, trên có vua Thánh Tông là bậc minh quân, thông tuệ, lại có các đại thần như các ông Trần Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Lương Thế Vinh… đều là những nhà học vấn uyên bác làm quan tại triều, mới cùng nhau kê cứu thành luật của Trung Quốc, kết hợp với tiếng nước nhà đặt ra hai bộ Đồng Văn và Nhã Nhạc”.
    Đồng Văn chuyên lo đảm nhiệm âm nhạc hoà tấu, còn Nhã Nhạc thì chuộng thanh âm chuyên lo nhạc hát. Cả hai bộ phận đều đặt dưới sự điều khiển của quan Thái thường phụ trách. Đó là âm nhạc triều đình. Ngoài ra còn dân nhạc Ty giáo phường thì để lo riêng về âm nhạc dân gian.
    Năm 1578 - 1600, vua Lê Thánh Tông cho sát nhập Đại Nhạc và Nhã Nhạc lại, có những nhạc cụ sau: trống ngưỡng thiên lớn, kèn trúc nam vàng lớn, long sinh, long phách, các đàn ba, bốn, mười lăm dây, sáo, trống một mặt sơn vàng, tang mỏng, phách, sanh tiền. Khi nào có lễ tế giao, lễ triều hạ gì lớn hơn mới dùng đến dàn nhạc này. Trong “Đại Nam thực lục” có ghi "… định lại nghị chương về triều hạ, về nhạc cụ, lễ Đại triều ở điện Thái Hoà: Nhã Nhạc một bộ, chuông to một chiếc, khánh lớn một chiếc, chuông nhỏ một bộ gồm mười hai chiếc, khánh nhỏ một bộ gồm mười hai chiếc, trống có trụ hai chiếc, ngữ một chiếc, trống bồng hai chiếc, đàn cầm bốn chiếc, đàn sắt bốn chiếc, tiêu bằng tre có mười sáu ống gồm hai chiếc, tiêu có hai mươi ba ống gồm có hai chiếc, ống sênh gồm hai cái, ống huyên hai cái, phách hai cái. Đại Nhạc một bộ gồm có: hai mươi trống, tám kèn, bốn tù và, bốn sala lớn, bốn sala nhỏ, hai ốc biển, còn các nhạc cụ loại nhỏ khác chỉ dung để hợp tấu ở sân điện Cần Chánh, dùng bao nhiêu thứ vẫn để như cũ.”
    Như vậy dàn nhạc lớn cung đình nó không còn cái nghĩa Nhã Nhạc là ban đồng ca như lúc ban đầu nữa, mặc dầu ở cung đình vẫn xuất hiện những ban đồng ca kết hợp cùng Đại Nhạc với quy mô lớn.
    Trong “Đại Nam thực lục chính biên” có ghi: "… Chọn hơn sáu mươi người ca công ở Bắc Thành và Thanh Nghệ cùng các trò chơi hơn hai mươi người nhạc công Chân Lạp và Cam Lộ đều đến họp ở Cửa Khuyết để trình diễn ca nhạc”. Biên chế dàn nhạc thuộc bộ Đồng Văn không có con số cụ thể, thường thì được dùng trong ngày tế giao, tế miếu và khi có tế lễ lớn thì tấu bài “Bát dật” - một hình thức hòa tấu kết hợp giữa dàn nhạc lớn với hát và múa. Như vậy, Đồng Văn cũng chỉ là một bộ trong dàn nhạc lớn mà thôi.
    Tóm lại, Đồng Văn và Nhã Nhạc là những hình thức tổ chức của dàn nhạc cung đình, lúc khởi thủy được phân ra hai loại, nhưng từ đầu thế kỷ 19, thì sự phân định này không dùng nữa mà thường kết hợp hòa tấu giữa dàn nhạc với hát và múa với số lượng ca công, vũ công có đến hàng trăm người.

    Hòa tấu nhã nhạc
    Nhã nhạc Cung đình
    Đời vua Thành Thái được đổi tên là “Võ can đội” nhân viên gồm một trăm hai mươi người, sau lấy thêm hai mươi đồng ấu. Đến thời vua Khải Định tuyển thêm ba mươi đồng ấu vào “Võ can đội”. Với một tổ chức nghệ thuật khá chặt chẽ, cho nên nghệ thuật trình diễn của triều đình nhà Nguyễn đã phát triển hết sức phong phú và đa dạng với rất nhiều hình thức và thể loại cũng như các dàn nhạc. Các diễn viên trình diễn được rèn tập một cách công phu nghiêm ngặt. Những người hoạt động âm nhạc cung đình có kinh nghiệm lâu năm trong nghề được phong phẩm hàm, chức tước để yên tâm phục vụ nghề nghiệp lâu dài.
    Về các dàn nhạc cung đình triều Nguyễn gồm có:
    Dàn nhã nhạc: thường dùng trong ngày tế giao, tế miếu.
    Dàn nhạc huyền: có nhiều nhạc cụ thuộc bộ gõ được treo trên giá cùng với các nhạc cụ dây và hơi.
    Đại nhạc (danh từ Đại nhạc xuất hiện từ đời Lý): Đại nhạc là loại nhạc dành cho những nghi thức lễ lớn của vua, gồm có bốn mươi hai nhạc cụ cho các bộ gõ và hơi.
    Tế nhạc hay Ty trúc tế nhạc: Tế nhạc nghĩa là tiểu nhạc gồm các nhạc cụ hơi, dây, gãy dùng trong tế lễ, giải trí, yến tiệc.
    Ty Chung, Ty Khánh: (Nhóm đánh chuông, nhóm đánh khánh đá)
    • Biên Chung: một dàn gồm mười hai chuông nhỏ, và có một bát chung (chuông lớn).
    • Biên Khánh: một dàn gồm mười hai khánh nhỏ và có một đặc khánh (khánh đá lớn).
    Ty cổ: gồm có bảy nhạc công đánh trống lúc tế giao.
    Quân nhạc: dùng hai bộ hơi và gõ (kèn và trống hai mươi người) âm lượng lớn. Nhân viên khi đánh nhạc phải mặc binh phục.
    Ngoài ra, loại dàn nhạc chính thức có tên gọi và thường trình diễn trong cung đình cũng như được miêu tả trong các tài liệu sách vở, các công trình nghiên cứu, cũng còn một số dàn nhạc chưa có tên chính thức như ban nhạc thiều (Quốc nhạc), dàn nhạc kèn hơi của vua Khải Định (1919). Dàn nhạc kèn hơi theo kiểu Pháp, tức là các nhạc cụ gồm kèn đồng, kèn gỗ ngày nay như thành phần trong dàn quân nhạc đương đại, nhằm mục đích là đối ngoại và cử quốc ca Nam triều, đánh bài Đăng đàn (Hymme Impérial).

    Múa Cung đình
    Hoà tấu lễ nhạc Cung đình
    Trải qua nhiều biến động của lịch sử, âm nhạc cung đình cũng có những bước thăng trầm, song các triều đại đã biết kế thừa, phát triển nó để phục vụ cho vương triều, phục vụ cho tầng lớp quý tộc phong kiến đương thời.
    “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí” của Phan Huy Chú có một đoạn ghi: “Từ đời Lê Trung Hưng (1533) về sau rất nhiều lễ nghi trong triều đình, tại nơi cung vua phủ chúa hay nơi Thái Miếu đã phải vời tới Ty giáo phường cùng hòa tấu với hai thứ Đồng Văn và Nhã Nhạc, thậm chí nhiều khi dàn nhạc còn lại chỉ riêng do Ty giáo phường đảm nhiệm". Lịch sử cho thấy, hai luồng âm nhạc dân gian và cung đình luôn luôn tác động qua lại lẫn nhau khá rõ rệt. Hai luồng âm nhạc đó phát triển hay ngừng trệ đều phụ thuộc theo những bước thăng trầm của các triều đại, với những hoàn cảnh xã hội tạo thêm điều kiện cho sức sống của nó.
    Từ thời Gia Long đến Tự Đức, âm nhạc cung đình rất phát triển, chủ yếu là lễ nhạc. Các vua Nguyễn nhất là Minh Mạng và Tự Đức rất giỏi và am hiểu về thi phú, văn chương và say mê nghệ thuật, đặc biệt là tuồng. Chính bản thân các vua cùng tham gia chỉnh lý và soạn thảo các vở tuồng. Người cần nhắc đến, đó là một danh tướng, đồng thời cũng rất giỏi về âm nhạc và tổ chức âm nhạc đó là Đào Duy Từ, người Thanh Hoá, do xuất thân là con nhà hát xướng nên không được tham dự vào các kỳ thi ở triều Lê. Ông phẫn chí vào Đàng Trong, được chúa Nguyễn Phúc Nguyên phong làm quan Nội tán với tước Lộc Khê Hầu.

    Múa Chén
    Ông lập ra “Hoà Thanh thự” trong triều đình gồm ba đội: đội nhất, đội ba chuyên về nhạc, đội nhì chuyên về ca múa. Số lượng mỗi đội có một trăm hai mươi người, biết đánh trống, thổi kèn, đánh đàn dưới quyền trông coi của viên phó quản. Các đội này chuyên phục vụ trong các dịp nghi lễ, tế bái, yến tiệc cung đình với các loại lễ nghi: Giao Nhạc, Miếu Nhạc, Ngũ Tự Nhạc, Đại Triều Nhạc, Trường Triều Nhạc, Yến Nhạc, Cung Nhạc. Ngoài âm nhạc, Đào Duy Từ cũng chăm lo sưu tầm, chỉnh biên, sửa chữa một số chi tiết và sáng tác bổ sung thêm cho các điệu múa trong cung đình để phục vụ vua quan. Ông còn viết tuồng như: “Tam nữ đồ vương”, “Sơn hậu”… Có thể nói, thời kỳ này tuồng là hình thức sân khấu phát triển nhất ở Đàng Trong. Loại hình nghệ thuật này được các chúa Nguyễn và vua Nguyễn về sau rất yêu thích. Có thể nói, nghệ thuật tuồng được triều đình nhà Nguyễn nâng lên trở thành nghệ thuật hàn lâm trên tất cả các mặt: đào tạo, nghiên cứu, kịch bản, đạo diễn, hóa trang, phục trang… Bên cạnh sự phát triển của tuồng, thể loại đàn ca thính phòng, gọi là ca Huế cũng được phổ biến trong giới quan lại, trí thức và ngoài xã hội. Ca Huế tiếp thu phong cách văn chương tao nhã của các văn sĩ triều đình, với giai điệu thâm trầm, phong phú được bổ sung nguồn dân ca đậm đà ngữ điệu của một vùng đất. Hằng năm vào những dịp lễ hội, các nhân tài âm nhạc và các bộ môn nghệ thuật khác hội tụ về trình diễn, thi tài.
    “Thanh Bình thự” được thành lập dưới thời Minh Mạng. Một nhà hát tuồng đầu tiên được xây dựng ở trong cung, dành cho vua, hoàng hậu và các thân vương, quan lại xem, đó là “Duyệt Thị đường” ở ngay trong Hoàng thành Huế, phía Đông điện Quang Minh nằm khoảng giữa điện Cần Chánh và Càn Thành.
    Đến năm 1861, dưới thời Tự Đức có thêm “Minh Khiêm đường” được xây ngoài Hoàng thành. Từ thời Minh Mạng đến Khải Định, trong triều đình, tại phủ dinh vương hầu và quan lớn - ca múa nhạc cung đình với tên gọi là Thanh Bình thự về mặt tổ chức đã hoàn chỉnh, gồm đủ bốn bộ môn: nhạc lễ, múa hát cung đình, tuồng Huế, ca Huế.
    (Theo Hà Sâm - [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] )

  2. 7 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới HungMusic_NT cho bài viết hữu ích này:


  3. #2
    THCS
    Ngày tham gia
    01-07-2011
    Đang ở
    An Giang
    Bài viết
    3
    Thanks
    19
    Được THANKS 28 lần

    Dàn nhạc Cung Ðình

    Dàn nhạc Cung Ðình

    Theo (Lê Quí Ðôn - Kiến văn Tiểu lục- Nhà xuất bản Khoa học Xã hội-Hà Nội 1977) thời vua Lê Thái Tông, năm Thiệu Bình thứ tư (1438) Lương Ðăng tâu với vua bỏ trò Chèo hát và ông dâng Nhã nhạc sáng tác theo qui chế nhà Minh. Ấy là Ðường thượng Chi nhạc và Ðường hạ Chi nhạc sử dụng trong triều đình, Ðường thượng Chi nhạc gồm:

    A-Ðường Thượng Chi nhạc (thế kỷ XV)
    Tấu trên triều đường, gồm 13 nhạc khí thuộc 8 loại âm (Bát âm), ví dụ dàn nhạc tế miếu Khổng Tử đời Minh (GSTS Trần văn Khê - Âm nhạc truyền thống Việt Nam)

    1- Huyền đại cổ (trống lớn 1 cái)
    2- Biên Khánh (Biên khánh của Trung Quốc, Triều Tiên có 16 Khánh nhỏ, dày mỏng khác nhau, Biên khánh Việt Nam có 12 khánh nhỏ )
    3- Chung (1 loại chuông lớn thường hòa chung với Sinh)
    4- Biên chung (gồm 16 chuông treo trên giá)
    5- Ðàn Cầm (7 dây)
    6- Ðàn Sắt (25 dây)
    7- Sinh (nhạc khí thổi làm bằng vỏ bầu có 13 ống thổi)
    8- Thược (Sáo 3,5 lỗ)
    9- Trì (Nhạc khí thổi bằng tre, thường tấu với Huân (Sáo ngang 6,7 lỗ)
    10- Quản (một loại kèn)
    11- Chúc (nhạc khí gõ bằng gỗ, hình cái đấu vuông, sâu một thước năm tấc cổ)
    12- Ngữ (nhạc khí tự thân vang quẹt, hình giống như con hổ phục, lưng có 27 răng kim loại hoặc 32 tấm phách gỗ, tấu bằng cách sử dụng một miếng gõ quẹt vào các răng hoặc phách)
    13- Huân (nhạc khí hơi bằng đất, hình quả trứng, trên thót, dưới bằng có 4 lỗ đằng trước, 2 lỗ đằng sau)

    B-Ðường Hạ Chi nhạc (thế kỷ XV) tấu dưới thềm, gồm có:

    1- Huyền Phương hưởng (nhạc khí gồm 16 miếng kim loại hình chữ nhật, dày mỏng khác nhau, treo trên giá, tấu bằng cách dùng dùi gõ vào)
    2- Không Hầu (một loại nhạc khí dây gảy cổ xưa, có 20 dây hoặc 23 dây)
    3- Tỳ Bà (đàn 4 dây)
    4- Quản Cổ (trống)
    5- Quản Ðịch (Sáo)

    C-Dàn Ðại nhạc (thế kỷ XIX)

    (Ðỗ Bằng Ðoàn-Ðỗ Trọng Huề - Những đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt Nam- Nhà xuất bản văn học Hà Nội-1992). Thường được sử dụng trong các đại lễ như: lễ đại triều, lễ tịch điền tế thần nông (đúng vào lúc nhà vua tự mình cày ruộng), tế Nam Giao (khi vua vào bái vị), lễ tiếp đại sứ thần... dàn Ðại nhạc gồm có:

    1-8 Kèn (minh ca: sáo bằng lá sậy)
    2-4 Tù và lớn bằng vỏ ốc biển
    3-4 Tù và nhỏ bằng sừng trâu
    4-20 Trống
    5-4 Ðồng la
    6-4-Thanh la
    về sau thêm:
    7-1 Chũm chọe
    8-1 Sênh tiền
    9-1 Mõ sừng trâu
    10-1 Tam âm la
    11-1 Phách
    do nhân viên Ty Kỳ cổ, mặc binh phục trình diễn. Sau này trong nhân dân cũng có Dàn Ðại nhạc sử dụng trong việc tế lễ thần thánh, nhưng số lượng nhạc khí giảm bớt nhiều. Hiện nay ở Huế còn bảo tồn được một số nhạc khí trong Dàn Ðại nhạc : 4 kèn, 2 Trống, 1 Chũm chọe, 1 Sênh tiền, 1 mõ sừng trâu, 1 phách.

    D-Dàn Nhạc Huyền (thế kỷ XIX)

    Dàn nhạc Huyền xuất hiện vào năm Minh Mạng thứ 19 (1838), trong Ban nhạc Huyền có mặt các nhạc khí du nhập từ Trung Hoa mà vào thời cuối Thời Lê đã không còn được dùng nữa như: Huân, Trì, Chúc, Ngữ, Biên Chung, Biên Khánh (Ðỗ Bằng Ðoàn - Ðỗ Trọng Huề - Những đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt Nam- Nhà xuất bản Văn học Hà Nội-1992). Dàn Nhạc Huyền thường được sử dụng trong tế lễ như: Lễ Thánh thọ, Vạn thọ, Thiên Xuân, tế Nam Giao (lúc nhà vua mới xuất hiện, bước lên đàn), Dàn nhạc Huyền gồm có:

    1-1 Trống lớn
    2-1 Chuông lớn
    3-12 Chuông nhỏ
    4-1 Khánh lớn
    5-12 Khánh nhỏ
    6-1 Cái Phụ (Phụ: một thứ nhạc khí hình cái trống, bưng bằng da loài thú, trong nhồi cám và gạo để khi đánh cho tiống kêu êm dịu)
    7-1 Cái Chúc (Chúc: một thứ nhạc khí làm bằng gỗ hình như cái thùng, vuông 2 thước 4 tấc, sâu 1 thước 8 tấc, giữa có một cái trục bằng gỗ thông suốt đến đáy, để khi đánh lên cùng hợp với các tiếng nhạc. Bắt đầu cử nhạc thì đánh cái Chúc, đến khi gần dứt khúc thì đánh cái Ngữ)
    8-1 Cái Ngữ
    9-1 Trống nhỏ
    10-2 Ðàn Cầm
    11-2 Ðàn Sắt
    12-2 ống Tiêu lớn
    13-2 ống Tiêu nhỏ
    14-2 ống Sáo
    15-2 cái Sênh
    16-2 ống Huân (Huân: một thứ nhạc khí bằng đất nung, ở trên hơi nhọn, dưới nở ra và đáy phẳng. Phía trên có 1 lỗ, phía trước 5 lỗ, phía sau 2 lỗ. Thổi lên tiếng lớn như còi thét. Ống Huân lớn bằng trứng ngỗng gọi là Nhã huân, nhỏ bằng trứng gà gọi là Tụng huân)
    17-2 ống Trì (Trì: một thứ nhạc khí thuộc loại quản (ống thổi), cầm ngang mà thổi, dài 1 thước 4 tấc và có 8 lỗ.
    18-2 cái Phách
    do 2 viên Quản vệ cùng các Ðội trưởng đội Thị trung đội mũ hổ đầu mặc áo lam chẽn tay điều khiển.

    [B]E-Dàn Nhã nhạc[/B]

    Theo (Khâm định Ðại nam Hội điển sự lệ, quyển 99 mục Nhạc khí trang 113,114,115). Nhã nhạc còn gọi là Nhạc Thiều, chính nhạc đời xưa dùng tế giao miếu gồm có:

    1-Trống Mảnh 1 cái (bản cổ: trống 1 mặt trông như 1 nửa cái trống con)
    2-Ðàn Tỳ Bà (1 cái)
    3- Ðàn Nguyệt (1 cái)
    4- Ðàn hai dây 2 cái (Nhị)
    5- Ống Ðịch 1 cái
    6- Tam âm la (1 cái)
    7-Sênh Tiền (1 cái)
    8-Nhạc treo (1 bộ)
    9-Kiến cổ (1 cái): (thứ trống có lỗ vuông ở giữa và đóng trụ suốt trung tâm để dựng lên. Trên trụ có hình cái tán và ở đỉnh có sức hình người dưới có chữ thập ngang dọc, hình như 4 chân, khắc hình sư tử)
    10-Chuông to (1 cái)
    11-Khánh lớn (1 cái)
    12-Chuông nhỏ (12 cái)
    13-Khánh nhỏ (12 cái)
    14-Bác Phụ (nhạc khí làm bằng da, sau khi chế ra như cái trống có buộc dây, để đeo vào cổ dùng tay đánh. Cứ mỗi tiếng kiến cổ lại đánh theo tiếng Bác phụ để họa)
    15-1 Cái Chúc (nhạc khí như cái thùng sơn, giữa có hai dùi suốt đến đáy, rồi lắc lên thành tiếng)
    16-Trống (1 cái)
    17-Ðàn Cầm (2 cái)
    18-Ðàn Sắt (2 cái)
    19-Bài Tiêu (2 cái)
    20-Ống Tiêu (1 cái)
    21-Ốc đinh (2 cái)
    22-Sênh (2 cái)
    23-Huân (2 cái): thứ sáo làm bằng đất có 6 lỗ, một đầu thổi.
    24-Trì (2 cái): nhạc khí dài, rộng như bàn tay, có 9 miếng lớn, 6 miếng nhỏ đều viên bằng da để dùng làm nhịp nhạc.
    25- Phách Bản (2 cái)
    Hiện nay ở Huế còn bảo tồn được một số nhạc khí trong dàn Nhã nhạc: đàn Nguyệt, Ðàn Tam, Ðàn Tỳ Bà, 2 Ðàn Nhị, 2 Sáo, 1 Trống con, 1 Sênh tiền, 1 Tam âm la. Ở Triều Lê, Nhã nhạc là tổ chức âm nhạc chuyên về xướng hát, nhưng đến thời Nguyễn, Nhã nhạc lại là một tổ chức Dàn nhạc, thường được sử dụng trong đám rước, trong yến tiệc, đệm cho các vũ khúc.

    F-Ban Nhạc Thiều

    (Ðỗ Bằng Ðoàn - Ðỗ Trọng Huề- Những đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt Nam- Nhà xuất bản Văn học Hà Nội - 1992, trang 106,107,108). Ngày xưa vào những dịp Quốc lễ, Quốc khánh, Tết Nguyên đán, lễ kết hôn của Hoàng tử và Công chúa... trong cung vua, khi diễn dùng ban nhạc Thiều, nhạc khí gồm có:

    1- Trống Lớn hay Trống Cái: hình tròn, giữa phình ra, tang trống bằng gỗ mít, đai bằng tre, sơn son vẽ rồng mây, mặt bưng da trâu, mắc vào đinh khuy treo lên cái giá gỗ sơn thếp, trên giá có hình con quạ đứng.
    2- Trống Con: nhỏ hơn trống lớn.
    3- Trống Tiểu Bồng: hình tròn, bưng một mặt.
    4- Trống Yêu cổ: hai đầu phình ra, giữa thắt lại như cái chày, khi đánh lấy tay vỗ vào hai mặt trống.
    5- Ðàn Tỳ Bà: có 4 dây,
    6- Ðàn Tam: có 3 dây,
    7- Ðàn Nguyệt: có 2 dây,
    8- Hồ: có 2 dây và cái vĩ để kéo: tiếng trầm.
    9- Nhị: có 2 dây và cái vĩ để kéo: tiếng thanh và cao.
    10- Sáo: thổi ngang có 8 lỗ, 1 lỗ để thổi, 6 lỗ để bắt tay, phía trên 6 lỗ này có 1 lỗ dán cái màng bằng tre mỏng để thổi cho vang.
    11- Kèn: thổi dọc.
    12- Sênh tiền: tay phải cầm một thanh gỗ dài ước 20 phân tây hình con bài, có đóng 5 cái đinh, mỗi đinh sâu 5 đồng tiền trinh, tay trái cầm một miếng gỗ cũng dài như trên, gõ vào miếng gỗ bên tay phải cho các đồng tiền trinh rung lên ăn nhịp với khúc nhạc.
    13- Tam âm: một cái vòng đồng uốn thành 3 vòng tròn có chuôi bằng gỗ để cầm, trong mỗi vòng tròn đeo một cái Thanh la nhỏ bằng đồng. Khi hòa tấu, cầm dùi gỗ có mõ gõ vào 3 cái Thanh la phát ra 3 âm thanh khác nhau hòa với khúc nhạc đây chính là cái Tam âm la. Nhạc khí kể trên hòa tấu lúc ca vũ. Những khi tế lễ còn dùng:
    14-Chuông: bằng đồng
    15-Khánh: bằng đá, hình con dơi, dùi bằng thanh sắt tròn.
    16-Ðàn Sến: có 2 dây, thùng đàn có 6 góc trong như vỏ sò, vỏ hến.
    17-Ðàn Cầm: có 7 dây.
    18-Ðàn Tranh: có 16 dây
    19-Mõ Song lang: bằng gỗ, mặt tròn như cái đĩa, có chuôi để cầm, bên sườn khoét 1 lỗ hổng như cái mõ. Lại có 1 miếng sắt dài, một đầu gắn vào cái chuôi, một đầu tròn như cái dùi. Lấy đầu dùi đập vào mặt gỗ, phát ra tiếng kêu như tiếng Mõ giữ nhịp cho khúc nhạc, cũng có khi để ở dưới bàn chân mà dậm nhịp.
    Hình được đính kèm Hình được đính kèm

  4. 4 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới binhvhnt cho bài viết hữu ích này:


  5. #3
    THCS
    Ngày tham gia
    07-05-2013
    Đang ở
    bac lieu
    Bài viết
    3
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    bài viết rất hữu ích cho những ai không rành về âm nhạc huế., thank

  6. #4
    Banned
    Ngày tham gia
    15-10-2015
    Đang ở
    Tay Ninh
    Bài viết
    11
    Thanks
    4
    Được THANKS 0 lần
    Đúng là mỗi vùng có những đạc điểm riêng của nó. Giọng nói, lời ca, tiếng nhạc. Bài viết rất hay. Cám ơn bạn đã giúp mình hiểu thêm về nét đặc trưng của Huế

  7. #5
    Tiểu học
    Ngày tham gia
    29-07-2016
    Đang ở
    Ho Chi Minh
    Bài viết
    2
    Thanks
    0
    Được THANKS 0 lần
    mình nghe qua 1 lần rồi, nhạc nghe buồn ngủ quá

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •