Forum Home Your IP: 54.80.247.119

Trang 1 của 2 12 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 15

Chủ đề: Đờn ca tài tử

  1. #1
    PTTH

    Ngày tham gia
    14-03-2010
    Đang ở
    Tầng hai không cao không thấp
    Bài viết
    67
    Thanks
    177
    Được THANKS 802 lần

    Đờn ca tài tử

    Đờn ca tài tử Nam Bộ: Hồn muôn năm cũ, bây giờ ở đây

    Đờn ca tài tử là hoạt động văn hóa dân gian đặc trưng của vùng đất sông nước miệt vườn, trở thành cốt cách của người Nam Bộ xưa nay. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian này vẫn tồn tại và phát triển, gắn bó mật thiết trong đời sống tinh thần con người đất phương Nam.

    Theo các tài liệu khảo cứu về văn hóa Nam Bộ thì Đờn ca tài tử (ĐCTT) xuất hiện từ thuở khai thiên lập địa vùng đất phương Nam. Ban đầu ĐCTT chỉ là thú giải trí trên ghe thuyền, sông rạch của con người đi khẩn hoang. Về sau, ĐCTT được đưa vào biểu diễn trong đình, chùa vào những dịp lễ Tết, giỗ chạp. Hai chữ "tài tử" là để chỉ người tài. ĐCTT là hoạt động văn hóa, giải trí của một nhóm người tài, có giọng ca thiên phú cùng sự đam mê luyện tập, ứng đối tốt. "Tài tử" thường đi với "giai nhân". Tài tử sánh với giai nhân là tri âm tri kỷ.

    Thời sơ khai của ĐCTT (trải dài suốt triều Nguyễn cho đến đầu thế kỷ XX), ĐCTT là thú chơi của tầng lớp quan lại, quý tộc. Các nhóm ĐCTT tiếng tăm như ban của ông Tư Triều và Hai Triều ở Mỹ Tho, Tiền Giang thường được giới quý tộc săn đón, mời mọc biểu diễn. Dân chúng mê ĐCTT, theo ĐCTT như một thứ bùa. Đã mê rồi, họ không dứt ra được.

    Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ĐCTT là linh hồn của phong trào "Tiếng hát át tiếng bom" ở Nam Bộ. Một số bản nhạc tài tử thời kỳ đó trở thành bất hủ như: Mặt trận Tầm Vu, Chống Bảo Đại, Lưu thủy trường, Xuân tình v.v...

    Tài tử, giai nhân một thời vang bóng

    Thành phố Cần Thơ là vùng đất nổi tiếng của phong trào ĐCTT xưa nay. (Thời xưa, vùng đất Cần Thơ có tên là Cầm Thi. Hoạt động đờn ca trên sông nước ở đây đã làm nên giai thoại Cầm Thi Giang nức tiếng một thời). Đất tài tử hàng đầu ở Cần Thơ phải kể đến huyện miệt vườn Phụng Hiệp.

    Trong số các lão tài tử từng nổi tiếng thời chống Pháp còn sống đến hôm nay, cụ Lưu Văn Thuần (Ba Thuần) ở ấp Phụng Sơn A, xã Tân Long, huyện Phụng Hiệp được coi như một "gia tài sống" về ĐCTT. Nhà cụ Thuần nằm bên bờ một dòng kênh nhỏ. Người dân ở đây gọi cụ Thuần là "cụ Ba tài tử". Cụ còn rất trẻ và khỏe so với tuổi 82 của mình. Con đường trở thành tài tử của cụ Ba quả cũng lắm công phu.

    Cụ kể: "Hồi xưa tui mê đờn ca nên được ba má tui mời thầy về dạy. Thầy dạy tui là tài tử Bảy Tàu ở ấp Láng Sen, xã Phụng Hiệp. Lớp học có 6 người, học vào ban đêm, vừa học đờn, vừa học ca. Sau hai năm theo học, thầy bảo: Các con giờ đã ca hay, đờn giỏi, nhớ lấy tiếng ca, tay đờn để mua vui cho đời. Được như vậy thì tâm hồn sảng khoái, sống lâu. Những lần đi làm ăn buôn bán xa quê, tụi tui thường tụ tập đờn ca. Từ đó, tui quen với ông Trần Văn Thành, một tài tử rất nổi tiếng ở Sóc Trăng. Con gái ông Thành là Trần Thị Lan mê tiếng ca, tay đờn của tui nên đem lòng yêu thương rồi trở thành vợ tui"...

    Với chất giọng trời phú, Ba Thuần trở thành một trang tài tử nổi tiếng khắp miệt vườn. Ba Thuần gia nhập đoàn văn nghệ của huyện đi biểu diễn phục vụ bộ đội khắp các vùng Long Điền, Phụng Hiệp... Ông lọt vào tầm ngắm của bọn mật thám, chỉ điểm. Chúng tổ chức mật phục, truy lùng ông ráo riết với mục đích triệt hạ giọng ca tài tử. Bị giặc bắt, giam tù, tra tấn dã man, ra tù Ba Thuần tiếp tục gia nhập các nhóm đờn ca phục vụ kháng chiến. Con trai hy sinh trong kháng chiến, vợ mất, Ba Thuần sống cùng với người con gái duy nhất. Cụ Ba Thuần là thương binh hạng 4/4. Hiện nay, cụ Ba và các thành viên trong nhóm ĐCTT chỉ đi hát mua vui, không lấy tiền thù lao.

    Cách Phụng Hiệp một chuyến đò ngang, mảnh đất Phong Điền cũng có một lão giai nhân vang bóng một thời về đờn ca và nay cũng đang say sưa bầu nhiệt huyết ấy, đó là cụ Phan Thị Thanh Liên (Năm Liên). Cụ Năm Liên năm nay đã 72 tuổi nhưng lời ca vẫn rất mượt, trong và sáng. Cụ Ba Thuần và cụ Năm Liên đều chung nguyện vọng, đó là được truyền nghề cho lớp con cháu. Những lão tài tử, giai nhân một thời vang bóng như cụ Ba Thuần, cụ Năm Liên hiện còn rất ít.

    Đờn ca tài tử không chỉ để mua vui

    Vào cái thời bùng nổ nhạc rock, nhạc rap... nhịp sống cuồn cuộn, lớp trẻ vùng sông nước miệt vườn cũng bị cuốn theo. Những năm gần đây, khi ĐCTT được công nhận là tài sản văn hóa phi vật thể của vùng đất Nam Bộ cần phải được bảo tồn, phát triển, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã thường xuyên tổ chức các đợt liên hoan ĐCTT, liên hoan ca cổ. Trung bình mỗi xã có từ 1-3 câu lạc bộ ĐCTT. Ngoài ra, ĐCTT còn phát triển trong các quán nhậu. Tại các đô thị, hầu như ở khu phố nào cũng có quán nhậu ca cổ, ĐCTT.

    Nếu nhìn vào những biểu hiện ấy, có thể thấy ĐCTT đang dần trở lại thời vàng son. Tuy nhiên, vấn đề lại không đơn giản như vậy. Tại các cuộc liên hoan ca cổ và liên hoan ĐCTT gần đây, số lượng các diễn viên trẻ tham gia rất ít. Nghệ sỹ ưu tú Trúc Linh, một trong những cây đại thụ của làng ca cổ hiện nay, đã phát biểu rất tâm huyết rằng: Lớp trẻ nhiều cháu có chất giọng rất tốt nhưng ca hời hợt quá. Ca cổ, ĐCTT mà phong cách cứ như hát nhạc trẻ. Thế này thì khó mà "lớn" được.

    Nói về hướng đi cho ĐCTT, Giáo sư, nhạc sỹ Trần Văn Khê cho rằng: ĐCTT là hồn cốt của văn hóa Nam Bộ. Nó không bao giờ mất đi. Điều quan trọng là trong quá trình duy trì, phát triển, không được để nó biến tấu theo những khuynh hướng xô bồ, tùy tiện. Để làm được điều đó phải tạo cho ĐCTT có những "sân chơi" phù hợp. Chỉ dừng lại ở mấy cuộc liên hoan, thi thố thì chưa đủ.

    Ngày xuân tiết trời se se, lênh đênh qua những tuyến kênh rạch dưới không gian xanh ngút mắt, thưởng thức hương vị trái cây mát lịm, ngồi trên nhà hàng nổi thả hồn du dương theo âm thanh ĐCTT... là thú vui của du khách muôn phương khi đến vùng đất sông nước miệt vườn. Hy vọng ngày càng có nhiều "sân chơi" như thế để ĐCTT lại tiếp tục được mê đắm, được mời mọc.
    CÓ MỘT NGÀY, CÓ MỘT NGÀY , NGÀY RỰC RỠ VỀ TRONG ẤM ÁP...........GIA ĐÌNH.

  2. 27 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới DieuLan cho bài viết hữu ích này:


  3. #2
    PTTH

    Ngày tham gia
    14-03-2010
    Đang ở
    Tầng hai không cao không thấp
    Bài viết
    67
    Thanks
    177
    Được THANKS 802 lần
    Đờn ca tài tử – Bản sắc văn hóa Nam bộ
    Chơi đờn ca tài tử Nam Bộ phải là nơi có phong cảnh hữu tình, gợi cảm, gần với thiên nhiên, các tài tử thích chơi giữa cảnh cầu tre lắc lẻo - gập ghềnh khó đi, cảnh trời trăng mây nước, rừng xanh nước biếc, đồng ruộng mênh mông hay dưới bóng mát tàng cây cổ thụ, lũy tre làng… Hay trên chiếc thuyền trôi xuôi êm ả theo dòng nước lồng lộng trăng rằm, nên thơ tĩnh mịch, tiếng lá dừa nước hai bên bờ rì rào dịu êm như tiếng nhạc, làm tăng vẻ hữu tình cho buổi đờn ca tài tử trên sông.


    Đờn ca trong những phút giải lao


    Chơi đờn ca tài tử những nơi khuê cát

    Ở nông thôn Cà Mau, từ già, trẻ, bé, lớn… đều biết đờn ca, đó là lẽ đương nhiên. Trên đường đi khai thác gỗ, đi cấy cày, nhổ mạ, gặt lúa, xổ vuông, đi biển, nhất là khi chèo xuồng một mình trên sông, hay chống xuồng ba lá thanh thoát giữa rừng rậm U Minh… Những bài vọng cổ nằm lòng sẽ được ngân lên, thậm chí có bài nội dung không dính dáng gì với hoàn cảnh thực tại cũng ca “chay” (không có đệm đờn), lời ca phóng khoáng có sức truyền cảm lạ lùng. Không ai nghe thì ca “mình ên” nghe cho “đã”. Vì “nghệ sĩ” trước tiên là người thưởng thức sản phẩm của chính mình.


    Giáo sư Trần Văn Khê nhận xét: “... chân phương hoa lá trong bài vọng cổ đã được áp dụng một cách thần tình. Hoa chẳng những đẹp mà còn thơm. Lá chẳng những xanh mà còn tươi. Thành ra bản Vọng cổ có cái tươi mát, cái đẹp đẽ, có cái phong phú, cái dồi dào mà sức sống, sức đóng góp của tất cả những người nghệ sĩ, từ đứa con của bác Sáu Lầu sáng tạo, nuôi dưỡng cho nó lớn lên mạnh mẽ, nó đẹp đẽ...”.


    Đờn ca trên những chiếc cầu xinh xinh


    Đờn ca ở những nơi tán cây bóng mát


    Đờn ca tài tử dưới những đêm trăng

    Chơi đờn ca tài tử nói chung và ca tài tử trên sông nước nói riêng có sức hấp dẫn, làm say mê lòng người, ai biết qua rồi khó lòng bỏ được. Vì đờn ca tài tử là bản sắc văn hóa Nam Bộ, văn hóa Việt Nam.
    CÓ MỘT NGÀY, CÓ MỘT NGÀY , NGÀY RỰC RỠ VỀ TRONG ẤM ÁP...........GIA ĐÌNH.

  4. 20 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới DieuLan cho bài viết hữu ích này:


  5. #3
    PTTH

    Ngày tham gia
    14-03-2010
    Đang ở
    Tầng hai không cao không thấp
    Bài viết
    67
    Thanks
    177
    Được THANKS 802 lần
    Hoàng đế của nhạc tài tử cải lương

    Từ trong quá khứ đến hiện tại ,bản vọng cổ luôn được xem là bản chủ lực của nhạc tài tử cải lương .Cho đến nay nó như một vị hoàng đế trong các cuộc chơi đờn ca tài tử và cả trên sân khấu cải lương .

    Ai cũng biết bản vọng cổ do nhạc sĩ Cao Văn Lầu sáng tác tại thị xã Bạc Liêu .Ban đầu có tên Dạ Cổ ,kế đó là Dạ cổ hoài lang và nay là bài vọng cổ ,với từng giai đoạn được nới rộng tiết tấu.


    Nhạc sĩ Cao Văn Lầu sinh năm 1892 ,tại làng Thuận Lễ ,tổng Cửu Cư hạ ,nay là xã Thuận Mỹ -Châu Thành –Long An . Ông mất ngày 13/08/1976 (âm lịch) tại thị xã Bạc Liêu mà ông chọn làm quê hương thứ hai ,nơi đã khai sinh ra bản vọng cổ .Thân phụ của ông cũng là nghệ nhân –Hương nhạc chỉ huy ban nhạc lễ trong làng ,tên là Cao Văn Giỏi (Chín Giỏi) .

    Nhạc sĩ Cao Văn Lầu

    Ở vào cái thời mà thực dân và phong kiến đàn áp dân nghèo ,người mang nặng kiếp tằm nghiệp dĩ đều phải chịu cảnh đói khổ ,lúc đó ,gia đình ông phải rời nơi chôn nhau cắt rốn(Long An ) dạt về phía Nam ,ghé nhiều nơi ở Nam kỳ lục tỉnh và cuối cùng dừng lại ở Bạc liêu.

    Tại đây ,Cao Văn Lầu(6 Lầu); thọ giáo thầy đờn Nhạc Khị ,một thầy đờn giỏi nổi tíêng khắp Nam Kỳ lục tỉnh , đứng đầu nhóm tài tử Bạc Liêu ,người đời tôn ông là hậu tổ tài tử cải lương .Sau một thời gian học đờn tranh và kìm , ông Sáu Lầu trở thành học trò xuất sắc nhất trong nhóm các môn đệ của thầy Nhạc Khị .Sáu Lầu thầm yêu cô Hai Thân(con gái thầy Nhạc Khị) ,nhưng vì nhà nghèo không tiền cưới nên cô Hai Thân; phải đi lấy chồng .

    Câu chuyện tình yêu của Sáu Lầu và Hai Thân theo thời gian chỉ còn là kỷ niệm .Gia đình cưới một người con gái cùng quê cho Sáu Lầu nhưng trớ trêu thay , đã ba năm mà nàng không sinh nở ,trong khi cha mẹ Sáu Lầu luôn mong có đứa cháu nội .Hồi đó quan niệm “ Tam niên vô tử bất thành thê” rất khắc nghiệt .Cha mẹ Sáu Lầu buộc ông thôi vợ để cưới người khác và cho vợ ông được trở về nhà cha mẹ đẻ.

    Sáu Lầu vẫn chung thuỷ với vợ . Đêm đêm một mình chăn đơn gối chiếc ông nằm nghe tiếng trống chùa Vĩnh Phước vọng lại đến não lòng. Ông liên tưởng đến tình cảm của vợ chồng ông chẳng khác gì thiếu phụ trông chồng như Hòn Vọng Phu ,cùng lúc cảnh đất nước đang bị thực dân phong kiến thống trị .

    Đêm khuya thanh vắng ôm đờn mà giải bày tâm sự , ông nhớ đến điệu nam ai với bài Tô Huệ Chức cẩm hồi văn và dựa tứ đó sáng tác bản Dạ Cổ .Từ câu chuyện tình yêu và nổi khổ của mình ,nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã nâng lên thành tâm trạng chung,tư tưởng nghệ thuật chung của dân tộc lúc bấy giờ để môi người cùng chia sẻ.

    ..Từ là từ phu tướng

    Bảo kiếm sắc phong lên đàng

    ..Trở lại giang đàng

    Cho én nhạn hiệp đôi ớ.. ơ

    Đó là buổi bình minh của bạn vọng cổ .Nhạc sĩ Cao Văn Lầu sáng tác giai điệu này khoảng cuối năm 1918 , đến năm 1919 thì được phổ biến trong giới tài tử Bạc Liêu .Cũng năm ấy ông lén đến thăm vợ và mấy tháng sau được vợ báo tin bà đã có thai .Cha mẹ ông vui mưừg và rước vợ ông về đoàn tụ .Kết quả bào thai ấy là cậu bé Cao Kiến Thiết ra đời (hiện nay là cán bộ về hưu)

    Từ sau năm 1920 thì bản dạ cổ hay dạ cổ hoài lang được phổ biến càng ngày càng rộng khắp miền Tây Nam Bộ ,với từng thời gian và tiết tấu được tăng thêm :nhịp đôi,nhịp tư,nhịp tám ,nhịp 16,và đến nay là bản vọng cổ nhịp 32. Các cuộc đờn ca tài tử nào cũng không thể thiếu vắng bản vọng cổ ,với hơi điệu nam ai oán ,vừa trữ tìinh lãng mạn,có chút buồn man mác …

    Ngay khi SKCL ra đời không lâu thì các tác giả tiền bối đã đưa bản vọng cổ vào cải lương và thịnh hành từ sau năm 1930 .càng về sau bản vọng cổ được đưa vào cải lương với số lượng mhiểu hơn, được tách rời từng câu cho phù hợp với tình huống ,hoàn cảnh kịch như có lớp chỉ câu 1+2,có lớp 15+16 ,có màu 3+4m hoặc 1+6…

    Các tác giả còn viết trọn bài theo các loại nhịp ,gọi là bản lẻ và thường xuất hiện trên các hãng băng đĩa , đài phát thanh và các cuộc đờn ca tài tử .Từ cuối thập niên 50 đến nay ,nhiều tác giả còn ghép bản vọng cổ với ca khúc ,gọi là tân cổ giao duyên rất ăn ý và nhiều tác phẩm đã làm say mê lòng người không ít.

    Bản vọng cổ đã có sức sống mãnh liệt trong lòng công chúng ,nó chiếm lĩnh tình cảm tất cả các tầng lớp từ trí thức , đến những người bình dân nhất. Nhiều vị tướng lĩnh ,tiến sĩ,giáo sư,bác sĩ ca vọng cổ rất hay và hầu hết dân chúng ở miền ĐBSCL ca rành bản vọng cổ.GSTS Trần Văn Khê ,có lần thuyết trình về cái đẹp của âm nhạc Việt Nam tại TPHCM đã nói “bản vọng cổ rất đa dạng về phong cách và phong phú về tư tưởng nội dung .

    Chỉ có câu chữ nhạc trong khuôn khổ nhất định mà mỗi người đờn nghe khác nhau về âm sắc ,người ca nhiều hơi,kỹ thuật giọng điệu cũng khác nhau ,người viết lời khác nhau tạo hương sắc bản vọng cổ muôn màu muôn sắc tuyệt vời.”Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đến Việt Nam nghe bản vọng cổ rồi bảo Vọng cổ chỉ từng ấy câu ,mà quá nhiều lời ăn ,nội dung cỡ nào cũng dung nạp được và nghe hoài không thấy chán.

    Và,một nghệ sĩ miền Bắc đã tâm đắc :Nam Bộ có bản vọng cổ vượt thời gian và không gian ,thể loại hay mà người ca cũng hay ,nhất là miền Tây Nam Bộ sờ đâu cũng đụng ca vọng cổ hay ! Phải chăng sự thăng hoa ấy của bản vọng cổ đã đạt đến đỉnh điểm của nó trong lòng mọi tầng lớp công chúng và nó cũng đã vượt đại dương đến nhiều nước trên thế giới.

    Cũng chính bản vọng cổ đã khẳng định sức sống và vị trí của mình bởi tính chất đa dạng :hỉ ,nộ, ái , ố .. Đặc điểm này đã nhanh chóng chắp cánh cho nhiều lớp nghệ sĩ nổi danh .Cô Ba Đắc ,Năm Nghĩa,Tư Sạng,cô Ba cần Thơ,Năm Trà Vinh,.. Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn ,tiếp nối những sầu nữ Út bạch lan ,Thanh Nga,Bạch Tuyết,Phượng Liên,Lệ Thuỷ,Mỹ Châu,Thanh Kim Huệ ,Tấn Tài ,Minh Cảnh,Minh Phụng,Minh Vương ,Thanh Sang ,Phương Quang,Thanh Tuấn,Vũ Linh…

    Nhờ những câu vọng cổ cải lương hay trên SKCL sàn diễn mà nhiều nghệ sĩ được khán giả coi như thần tượng ,họ luôn mong chờ cho nghệ sĩ xuống hò vọng cổ để vỗ tay tán thưởng …Vọng cổ đã làm cho xiêu lòng chị cho dày duyên em là thế .Có thể nói không một vở cải lương nào mà không có ít nhất vài câu vọng cổ ,vì nó như là máu thịt.

    Cứ đến mùa Trung Thu hàng năm ở Bạc Liêu lại tổ chức kỷ niệm ngày mất của nhạc sĩ Cao văn Lầu ,người đã để lại cho nghệ thuật dân tộc một di sản độc đáo ,một bản sắc văn hoá của cả nước nói chung và phía Nam nói riêng.
    CÓ MỘT NGÀY, CÓ MỘT NGÀY , NGÀY RỰC RỠ VỀ TRONG ẤM ÁP...........GIA ĐÌNH.

  6. 22 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới DieuLan cho bài viết hữu ích này:


  7. #4
    THCS
    Ngày tham gia
    16-06-2010
    Đang ở
    An Giang
    Bài viết
    4
    Thanks
    36
    Được THANKS 14 lần
    Cảm ơn DieuLan đã có bài viết đặc sắc về ĐCTT Nam Bộ cho anh em diễn đàn mở rộng thêm kiến thức.
    Dakorg đã có tìm hiểu và đọc nhiều về ĐCTT NB nhưng chưa được tiếp xúc với những chi tiết thú vị và cụ thể như ở bài của DieuLan. Có phải Dieulan là một người hoạt động chuyên ngành lý luận (?)

  8. 4 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới dakorg cho bài viết hữu ích này:


  9. #5
    ViAnhEm.com Team
    VuongMinh2006's Avatar
    Ngày tham gia
    18-03-2010
    Đang ở
    Nam Định
    Bài viết
    2,839
    Thanks
    12,166
    Được THANKS 16,747 lần
    minh họa cho bài diệu Lan nhé

    Đao Phủ



  10. 16 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới VuongMinh2006 cho bài viết hữu ích này:


  11. #6
    Truly Very Noob

    TheThuongNT's Avatar
    Ngày tham gia
    13-03-2010
    Đang ở
    Hải Phòng citi
    Bài viết
    3,790
    Thanks
    34,689
    Được THANKS 29,027 lần
    Đờn ca tài tử

    Nhạc thính phòng là một thể loại nhạc gồm các bài hát hoặc bản đàn được biểu diễn trong phòng khách tại tư gia hay trong một phòng nhỏ. Nhạc thính phòng Tây phương bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ thứ 16 ở châu Âu, đặc biệt là ở Ý và Anh, do những nhóm nhỏ các nhạc sĩ, ca sĩ chuyên trình bày các bài hát [1] rồi sau đó được phổ biến và phát triển tới việc trình tấu các bản đàn. Tại Việt Nam, từ thế kỷ thứ 10, dưới các triều vua Lê và Đinh đã xuất hiện những buổi ca múa trong cung đình, đền miếu, hoặc hội họp tại tư thất các quan tướng. Chính hình thức ca múa này đã làm nền tảng cho âm nhạc “thính phòng” Việt Nam ngày nay [2].

    Tựu trung, âm nhạc thính phòng Việt Nam bao gồm ca trù, ca Huế và đờn ca tài tử, phát triển mạnh từ đầu thế kỷ thứ 20. Điểm khác biệt chính yếu giữa nhạc thính phòng Việt Nam và dân ca Việt Nam là: nhạc thính phòng gồm những tác phẩm (có khi được ký âm) mà người trình diễn cũng như người thưởng thức phải được huấn luyện để có thể sử dụng các nhạc cụ, trình bày tác phẩm, cũng như hiểu biết về thi ca [3] ; trong khi dân ca mang tính cách tự phát, tự diễn trong lúc lao động hoặc giải trí.

    Đờn ca tài tử (còn gọi là nhạc tài tử) được phát triển chủ yếu tại miền Nam Việt Nam. Thuật ngữ tài tử có thể hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, tài tử là những người tài năng (talent), những bậc thầy tham gia trình diễn; thứ hai, tài tử là những người nghiệp dư (amateur), gồm cả những bậc thầy - nhưng không lấy đó làm kế sinh nhai - tham gia biểu diễn (music of the amateurs)[4] .

    Nền tảng của đờn ca tài tử chính là nhạc lễ (còn gọi là nhạc ngũ âm), một loại nhạc được phát triển vào thế kỷ thứ 17 dựa trên nhạc tế tự cung đình Huế và âm nhạc của các tỉnh Nam Trung bộ. Nhạc lễ trở nên thịnh hành ở miền Nam vào cuối thế kỷ 19, phục vụ chính yếu cho các lễ hội tại địa phương. Các ban nhạc lễ lúc bấy giờ thường gồm có các nhạc cụ gõ và dây kéo vĩ. Do nhu cầu phục vụ cho các tang lễ về khuya, nhạc lễ cần phải chơi với âm lượng nhỏ theo yêu cầu của gia chủ. Từ đó các ban nhạc lễ được tổ chức một cách gọn nhẹ hơn và bắt đầu dùng song lang thay cho trống nhạc để giữ tiết tấu, cũng như bỏ bớt các nhạc cụ dây kéo vĩ để chỉ còn có đàn cò [5] .

    Những ban nhạc lễ nhỏ gọn như vậy còn có tên gọi là nhóm đờn cây. Kể từ năm 1885 trở về sau, các nhóm đờn cây này được gọi là ban đờn ca tài tử để phân biệt với các ban nhạc lễ và nhạc hát bội đang thịnh hành song song [6] . Một điểm khác biệt khác giữa nhạc tài tử và nhạc lễ là sự có mặt của ca sĩ. Do vậy ngoài việc hòa đàn với nhau, ban nhạc tài tử còn tham gia việc đệm đàn cho ca hát [7] . Mặt khác, các ban nhạc tài tử dần dần không đàn cho đám tang nữa, trừ những trường hợp rất đặc biệt. Đối tượng phục vụ mới là những đám vui như đám ăn tân gia, đám cưới nhà giàu, đám thăng quan tiến chức, hoặc đám giỗ lớn [8] .

    Đầu thế kỷ thứ 20, đờn ca tài tử trở thành một phong trào ca nhạc phổ thông tại miền Nam, nhất là tại các địa phương như Bạc Liêu, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Đước (Long An), Cái Thia (Mỹ Tho), và Sài Gòn, v.v.. Các nhóm tài tử khối miền Đông (ở vùng Sài Gòn - Chợ Lớn và phụ cận) , và nhóm tài tử khối miền Tây (ở Vĩnh Long và Sa Đéc) cũng được hình thành. Đứng đầu nhóm tài tử khối miền Đông là ông Nguyễn Quang Đợi tức Ba Đợi, một nhạc sư từ triều đình Huế vào sống ở Cần Đước cùng với các nghệ sĩ khác như Cao Huỳnh Cư và Cao Huỳnh Điểu. Riêng nhóm tài tử khối miền Tây có ông Trần Quang Quờn tức Ký Quờn người Huế vào sống ở Vĩnh Long làm thủ lĩnh cùng với các nghệ nhân Trần Quang Diệm, Nguyễn Liên Phong và Nguyễn Tư Ba người gốc Quảng Nam.

    Các nghệ nhân này là những nhà tiên phong trong những cố gắng biên soạn, sáng tác và giảng dạy nhạc tài tử theo phong cách riêng của mình. Các ấn bản nhạc tài tử bắt đầu xuất hiện vào năm 1909. Riêng trong những thập niên 60 và 70, nhạc tài tử được các hãng đĩa phát hành rộng rãi trong và ngoài nước như hãng Béka, Ocora, Pathé, Việt Hải, Hồng Hoa, Marconi, và Odéon..v.v.. Từ đó nhiều danh ca, danh cầm được nhiều người biết đến. Tuy nhiên, ít thấy có những trường hợp đưa nhạc tài tử lên sân khấu trình diễn như thể loại âm nhạc thính phòng phương Tây[9] .

    So với các loại nhạc thính phòng khác của Việt Nam và phương Tây, trong nhạc tài tử, vai trò của những người đàn và hát là ngang nhau. Ca sĩ trong ca trù và ca Huế thường là phụ nữ, nhưng trong nhạc tài tử, ca sĩ nam và nữ đều có vai trò ca hát bình đẳng. Dàn nhạc của đờn ca tài tử có nhiều nhạc cụ hơn dàn nhạc của ca trù và ca Huế . Các nhạc cụ sử dụng trong nhạc tài tử thường có đàn tranh, cò, kìm, gáo, độc huyền, song lang, và ống tiêu ..v.v.. Khoảng từ năm 1920, đàn guitar phím lõm (hay “lục huyền cầm” hoặc chỉ gọi đơn giản là “ghi-ta”), hạ uy cầm, và violon (hay vĩ cầm) cũng được thêm vào trong ban nhạc [10] .

    Khi biểu diễn nhạc tài tử, các nghệ sĩ thường chú trọng đến sự kết hợp của các nhạc cụ có âm sắc khác nhau; ít thấy có sự kết hợp giữa các nhạc cụ cùng âm sắc. Thường thấy nhất là song tấu đàn kìm và đàn tranh - là sự kết hợp giữa tiếng tơ và tiếng sắt - mà giới chuyên môn gọi là sắt cầm hảo hiệp; hoặc tam tấu đàn kìm-tranh-cò, kìm-tranh-độc huyền, tranh-cò-độc huyền với từ chuyên môn là tam chi liên hoàn pháp [11] . Nếu một ban nhạc có 3 nhạc công và 1 ca sĩ thì được gọi là ban tứ tuyệt, nếu có 4 nhạc công và 1 ca sĩ thì gọi là ban ngũ tuyệt.
    Nguyện đi với anh suốt con đường dài, dù cho khó khăn vẫn chờ ta phía trước

  12. 16 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới TheThuongNT cho bài viết hữu ích này:


  13. #7
    Truly Very Noob

    TheThuongNT's Avatar
    Ngày tham gia
    13-03-2010
    Đang ở
    Hải Phòng citi
    Bài viết
    3,790
    Thanks
    34,689
    Được THANKS 29,027 lần
    Một điểm đặc biệt của nhạc tài tử là lối đàn ngẫu hứng - tương tự lối chơi ngẫu hứng trong nhạc jazz của Mỹ. Ở đây, người nghệ sĩ dựa trên bài bản truyền thống để thêm thắt những nhấn nhá, luyến láy của riêng mình một cách rất tinh tế dựa trên hơi và điệu của những chữ nhạc chính, nhưng đồng thời phải hòa hợp với những nghệ sĩ cùng diễn khác. Chính vì thế mà mỗi lần nghe lại cùng bản đàn, khán thính giả luôn luôn thấy mới lạ và hài hòa. Có lẽ phần ngẫu hứng nhiều nhất trong nhạc tài tử là ở phần rao của người đàn hoặc nói lối của người ca. Người đàn dùng rao - hoặc người ca dùng nói lối - để lên dây đàn và nhất là với mục đích gợi cảm hứng cho bạn diễn, tạo không khí cho dàn tấu, và chuẩn bị hình tượng âm nhạc cho người thưởng thức [12] . Ngoài ra, khi trình tấu, các nghệ sĩ cũng có thể dùng tiếng đàn của mình để "đối đáp" hoặc "thách thức" với người đồng diễn. Chính vì vậy mà nhạc tài tử luôn luôn sinh động và hấp dẫn người nghe.

    Đờn ca tài tử có một số lượng bài bản rất phong phú và đa dạng. Ngoài việc sử dụng một số bài bản trong nhạc lễ, còn có các bài bản từ ca Huế, dân ca miền Trung, miền Nam, và cả một số lượng lớn do các nghệ nhân bậc thầy sáng tác và cải biên. Do đặc tính ngôn ngữ và sinh hoạt riêng của người miền Nam mà nhạc miền Trung đã được phát triển đặc biệt trong nhạc tài tử[13] . Ví dụ bài Bình Bán của ca Huế được phát triển thành Bình Bán Vắn trong nhạc tài tử, Lưu Thủy Huế thành Lưu Thủy Đoản, Kim Tiền Huế thành Kim Tiền Bản, Phú Lục Huế thành Phú Lục Chấn, hoặc Bình Bán Huế thành Bình Bán Chấn..v.v..

    Các bài bản phổ biến nhất trong nhạc tài tử là 20 bài bản tổ (còn gọi là nhị thập huyền tổ bản) thuộc hai điệu Bắc và điệu Nam [14] . 20 bài bản tổ gồm có 7 bản lễ, 6 bản Bắc, 3 bản Nam và 4 bản Oán. Tương truyền rằng các bài bản này do ông Ba Đợi đúc kết và được xem như là những bài căn bản cho những người bắt đầu bước vào lĩnh vực nhạc tài tử. Một trong những bài bản nổi tiếng trong đờn ca tài tử là bản Dạ Cổ Hoài Lang - nghĩa là đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng - do nhạc sĩ Cao Văn Lầu tức Sáu Lầu ở Bạc Liêu sáng tác vào năm 1917 [15] . Dạ Cổ Hoài Lang là bài hát được phát triển dựa trên bài Hành Vân của ca Huế. Lời ca của bài hát này được sửa nhiều lần bởi các nghệ sĩ như cô Ba Vàm Lẻo, ông Nguyễn Tử Quang, ông Trịnh Thiên Tư[16] và được nhiều người yêu thích. Về sau, Dạ Cổ Hoài Lang được đổi tên là Vọng Cổ Hoài Lang, rồi được đơn giản hóa thành Vọng Cổ [17] . Từ năm 1945, ông Giáo Thinh tức Nguyễn Văn Thinh, một nhạc sư có uy tín tại Sài Gòn, đã đúc kết và phổ biến một hệ thống mới gọi là 72 bài bản cổ nhạc miền Nam (còn gọi là thất thập nhị huyền công). Theo đó, một nghệ nhân được công nhận là bậc thầy nếu biết hết 20 bài bản tổ; và để đạt mức cao siêu hơn, nghệ nhân đó cần biết hết 72 bài bản này[18] .

    Nhạc tài tử được phát triển mạnh ở miền Nam một phần là nhờ có khá nhiều lò dạy được mở ra ở khắp lục tỉnh và Sài Gòn. Đầu tiên, chỉ có những gia đình khá giả mới đủ tiền mời thầy ở các tỉnh khác về nhà để dạy. Vào những năm của thập kỷ 40 và 50, các lò dạy mới bắt đầu phổ biến, nhất là tại Sài Gòn, do các nghệ sĩ từ tỉnh lên phụ trách. Những lò nổi tiếng thời bấy giờ như các lò của nghệ sĩ Chín Phàng (từ Long An), Hai Đậu (từ Tiểu Cần, Trà Vinh), Năm Lòng và Năm Được (từ Cần Giuộc). Các lò lớn nhất, nhiều uy tín, và đào tạo nhiều danh ca danh cầm nhất có thể kể đến là lò Văn Giỏi và Tấn Đạt [19] . Các nghệ nhân nổi tiếng như Sáu Thới, Năm Xem, Ba Đồng, Út Lăng, Tư Huyện, Tư Tụi, Sáu Thoàn, Văn Vĩ, Mười Đờn, Năm Vinh, Ba Trung, Sáu Xiếu và Nguyễn Văn Thinh cũng có nhiều đóng góp cho việc phát triển nàỵ
    Trong những năm gần đây, chính quyền địa phương các tỉnh và huyện ở miền Nam đã cố gắng khôi phục lại các lớp dạy đờn ca tài tử cũng như tổ chức các liên hoan đờn ca tài tử cấp tỉnh hoặc liên tỉnh. Ở hải ngoại cũng đã và đang có nhiều cố gắng khôi phục lại thể loại nhạc thính phòng này của Việt Nam; nhưng hầu hết vẫn còn rời rạc và thiếu sự bảo trợ về mặt tổ chức cũng như tài chánh v.v..

    Do chịu ảnh hưởng của sự du nhập nhạc Tây phương, các phương tiện thông tin hiện đại và một số nhận thức sai lạc của người dân về đờn ca tài tử nên thể loại nhạc thính phòng đặc sắc của Việt Nam này đang mất dần tính chính thống. Nhiều nơi đã thay đổi không gian thính phòng của đờn ca tài tử để diễn viên hòa nhạc và hòa ca trong không gian sân khấu - nơi mà người nghe và người diễn bị tách biệt. Nhiều chương trình nặng phần trình diễn, chú trọng nhiều đến phần ca hơn là hòa đàn. Thậm chí người ca hoặc người đàn còn học thuộc lòng các bài bản ký âm theo phương Tây một cách chi tiết; và do đó làm mất đi tính ứng tác, tính ngẫu hứng đặc trưng của nghệ thuật đờn ca tài tử truyền thống.

    Mặc dù về mặt thang âm điệu thức giữa âm nhạc cải lương [20] và âm nhạc của đờn ca tài tử không có ranh giới rõ rệt [21] , nhưng với cùng một làn điệu, cùng một bản đàn, lối ca và hòa tấu nhạc tài tử có một số khác biệt với lối ca và hòa tấu nhạc trên sân khấu cải lương. Do không bị hạn chế vào việc diễn xuất và kịch bản sân khấu, người nghệ sĩ của nhạc tài tử có nhiều thuận lợi hơn trong việc ứng tác và chơi ngẫu hứng.

    Xuất phát từ việc nhận thức được tầm quan trọng của nhạc đờn ca tài tử trong nền âm nhạc truyền thống Việt Nam nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung, ngày nay đã có khá nhiều nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học ở trong và ngoài nước đang tìm cách sưu tầm và hệ thống hóa các bài bản của nhạc tài tử, nghiên cứu thang âm điệu thức, phương pháp ký âm ..v.v.. Một số nhạc sĩ cũng đang tìm cách sáng tác thêm các bài bản mới để góp phần vào số lượng bài bản đang thịnh hành hiện nay.
    Nguyện đi với anh suốt con đường dài, dù cho khó khăn vẫn chờ ta phía trước

  14. 15 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới TheThuongNT cho bài viết hữu ích này:


  15. #8
    Truly Very Noob

    TheThuongNT's Avatar
    Ngày tham gia
    13-03-2010
    Đang ở
    Hải Phòng citi
    Bài viết
    3,790
    Thanks
    34,689
    Được THANKS 29,027 lần
    Bài viết của giáo sư Trần Văn Khê

    Đờn ca tài tử hình thành vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 ở Nam bộ. Các nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong trào Cần Vương vào Nam đã đem theo truyền thống Ca Huế. Trên đường đi họ dừng chân ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, từ đó tiếng đờn giọng ca xứ Huế mang thêm chút hương vị xứ Quảng. Nhưng khi vào đến miền Nam thì tiếng đờn miền Trung đã thay đổi rất nhiều, thậm chí một số bài bản tuy mang cùng tên mà nét nhạc đã khác xa. Bản chất phóng khoáng của con người và nếp sống tại miền Nam khiến cho các bài bản không còn y khuôn bản gốc ngày xưa.

    Người đờn người ca không muốn giữ nguyên si như thầy đã dạy mà luôn có đôi nét thêm thắt, thay đổi, tô điểm, đưa một chút ta hoà vào trong chúng ta khiến những bài bản đậm đà thấm thía hơn. Mặt khác, do lòng luôn luôn thương nhớ cội nguồn nên các điệu các hơi của đờn ca tài tử đều phảng phất nỗi buồn và được người mộ điệu ưa thích.

    Có người cho rằng chữ “tài tử” có nghĩa là không chuyên nghiệp, không phải nhà nghề. Nhưng thật ra ý nghĩa chữ “tài tử” ở đây là “người có tài” như trong câu dập dìu tài tử giai nhân (Kiều). Ngoài ra, “tài tử” còn ám chỉ việc không lấy đó làm nghề, không dùng tiếng đờn giọng hát làm kế sinh nhai mà chỉ để giải trí, để gởi gắm tâm sự riêng, hay cùng với bạn đồng điệu hòa đờn cho người mộ điệu thưởng thức.

    Nhưng không phải vì vậy mà những người đờn ca tài tử có trình độ nghệ thuật thấp. Ngược lại họ thường tập luyện rất công phu, phải theo thầy học từ chữ nhấn, chữ chuyền, phải rao sao cho mùi, sắp chữ sao cho đẹp và tạo cho mình một phong cách riêng. Vì vậy muốn trở thành một người đờn ca tài tử đúng nghĩa phải trải qua một thời gian luyện tập khá công phu.



    Dàn nhạc tài tử sử dụng đờn kìm và đờn tranh, thường thì lựa tiếng thổ hòa với tiếng kim, mà nếu có thêm cây đờn cò thì càng hay. Có thể thêm đờn độc huyền, đờn tỳ bà, đờn tam. Ống sáo, ống tiêu thường dùng trong các bài buồn như Tứ đại oán hay Văn thiên tường. Và đặc biệt là song lang (có nghĩa là hai thanh tre già) dùng để gõ vào nhau khi câu nhạc đến nhịp quan trọng.

    Đờn tài tử mở đầu với những câu “rao” để thử dây đồng thời thử đờn, giống như kỵ mã trước khi cưỡi ngựa ngồi ướm thử xem yên cương có đặt đúng chỗ và con ngựa có nổi chứng gì không. Câu rao của mỗi người hoàn toàn theo ngẫu hứng nên có thể đờn một cách khác nhau, chỉ cần theo đúng điệu thức đã chọn lựa. Sau đó mới lần lần đưa người nghe đi vào điệu thức, giống như hướng dẫn viên đưa du khách từng bước đi vào ngắm một căn nhà đẹp hay một khu vườn nhiều kỳ hoa dị thảo.

    Về bài bản thì đờn ca tài tử có rất nhiều, nhưng đại đa số các “thầy đờn” đều cho rằng có 20 bài tổ gồm 6 Bắc (Tây thi, Cổ bản, Lưu thủy trường, Phú lục chấn, Bình bán chấn, Xuân tình chấn hay Xuân tình điểu ngữ), 3 Nam (Nam xuân, Nam ai, Nam đảo hay Đảo ngũ cung), 4 Oán (Tứ đại oán, Phụng cầu, Giang nam, Phụng hoàng), 7 bài lớn (Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Tiểu khúc, Vạn giá).

    Đờn tài tử có khi đờn một mình như độc tấu đờn kìm hay đờn tranh. Khi hoà đờn, nếu chỉ có hai nhạc cụ thì thông thường là đờn tranh hoà với đờn kìm hoặc đờn cò. Nếu ba cây hoà chung (tam tấu) gồm đờn tranh, đờn kìm và đờn cò. Năm cây – gọi là ngũ tuyệt – gồm đờn tranh, kìm, cò, độc huyền và tỳ bà. Thỉnh thoảng lại có ống sáo hay ống tiêu cùng hoà và về sau có thêm ghi-ta phiếm lõm. Hiếm khi hoà đờn mà không có ca, vì vậy người ca đóng vai trò rất quan trọng.

    Điểm độc đáo của cách hoà đờn trong ca tài tử là áp dụng nguyên tắc học chân phương, đờn hoa lá ngang qua lăng kính của dịch học, phù hợp với quy luật biến dịch trong vũ trụ.

    Con người và sự vật luôn luôn thay đổi không ngừng, mỗi giây phút trôi qua trong cơ thể chúng ta có hằng trăm ngàn tế bào cũ chết đi và cũng chừng đó tế bào mới được sản sinh. Tuy nhiên sự thay đổi đó không làm chúng ta biến dạng bởi bên trong vẫn tồn tại những yếu tố căn bản không thay đổi, nghĩa là có biến dịch mà cũng có bất dịch.

    Cũng vậy, trong đờn tài tử thì nét nhạc, chữ nhấn, chữ chuyền của mỗi câu trong bài bản có thể thay đổi tùy trường phái hay người đờn nhưng lòng bản thì không thể thay đổi. Nhờ vậy, dầu cho người đờn có thêm chữ chuyền, có đổi nhịp nội ra nhịp ngoại, người nghe vẫn nhận ra bản đờn.

    Ngoài biến dịch và bất dịch còn có qui luật giao dịch. Trong cuộc sống khi có sự gặp gỡ của hai yếu tố thì các yếu tố đó phải thay đổi để không trở thành xung đột. Khi hòa đờn cũng vậy, nếu tỳ bà hòa với đờn kìm, do hai tiếng đờn có màu âm gần giống nhau nên thông thường đờn kìm đờn nhịp nội trong khi tỳ bà đờn nhịp ngoại: sự thay đổi này chính là tinh thần giao dịch để có được sự hoà hợp.

    Khi hòa đờn, người đờn tranh thường dùng những chữ đặc biệt như chữ “Á” (ngón tay cái của bàn tay mặt kéo rải dài từ dây đờn giọng cao xuống dây đờn giọng thấp), trong khi đó tiếng đờn kìm khảy chững chạc, nghiêm trang, chậm rãi, còn đờn cò thì dùng nhiều chữ vuốt. Ba cách đờn thay đổi để không bị đồng điệu, phối hợp môt cách nhuần nhuyễn, không bị trùng lắp và không làm biến dạng nhau, hoàn toàn đúng với quan điểm giao dịch.

    Rõ ràng phong cách đờn ca tài tử rất phù hợp với triết lý dân gian của người Việt Nam chúng ta.
    Nguyện đi với anh suốt con đường dài, dù cho khó khăn vẫn chờ ta phía trước

  16. 17 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới TheThuongNT cho bài viết hữu ích này:


  17. #9
    Manager
    Oldman's Avatar
    Ngày tham gia
    27-05-2010
    Đang ở
    Sài Gòn
    Bài viết
    1,827
    Thanks
    37,909
    Được THANKS 13,343 lần
    Trích dẫn Gửi bởi TheThuongNT [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Bài viết của giáo sư Trần Văn Khê

    Đờn ca tài tử hình thành vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 ở Nam bộ. Các nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong trào Cần Vương vào Nam đã đem theo truyền thống Ca Huế. Trên đường đi họ dừng chân ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, từ đó tiếng đờn giọng ca xứ Huế mang thêm chút hương vị xứ Quảng. Nhưng khi vào đến miền Nam thì tiếng đờn miền Trung đã thay đổi rất nhiều, thậm chí một số bài bản tuy mang cùng tên mà nét nhạc đã khác xa. Bản chất phóng khoáng của con người và nếp sống tại miền Nam khiến cho các bài bản không còn y khuôn bản gốc ngày xưa.
    Chắc cụ Khê xa quê lâu quá, quên mất địa đồ VN, chứ từ Huế vào Nam không qua Quảng bình, Quảng trị mà qua Quảng nam, Quảng ngãi.

  18. 5 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới Oldman cho bài viết hữu ích này:


  19. #10
    Nghiên Cứu Sinh
    AH_Studio's Avatar
    Ngày tham gia
    30-04-2010
    Đang ở
    Thanh Hóa
    Bài viết
    843
    Thanks
    1,319
    Được THANKS 5,050 lần
    Từ Đờn ca tài tử

    Đã đến lúc, theo [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ], người ta nghe hát bội hoài, hát bội mãi, cũng chán tai thét hóa nhàm[Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] thì các ban tài tử đờn ca xuất hiện.
    Buổi đầu, khoảng cuối [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] đến đầu [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ], các nhóm đờn ca được thành lập cốt để tiêu khiển, để phục vụ trong các buổi lễ tại tư gia, như đám tang, lễ giỗ, tân hôn...nhưng chưa hề biểu diễn trên sân khấu hay trước công chúng.
    Và nếu trước kia “cầm” (trong “cầm, kỳ thi, họa”) là của tầng lớp thượng lưu thì đến giai đoạn này nó không còn bị bó buộc trong phạm vi đó nữa, mà đã phổ biến rộng ra ngoài. Chính vì thế nhạc tài tử ở các tỉnh phía Nam, về nội dung lẫn hình thức, dần dà thoát ly khỏi nhạc truyền thống có gốc từ Trung, Bắc.
    Nhắc lại giai đoạn này, trong Hồi ký 50 năm mê hát, có đoạn:
    Căn cứ theo sách vở thâu thập và những lời của người lớn tuổi nói lại, và nếu tôi (Vương Hồng Sển) không lầm thì buổi sơ khởi của cải lương, là do sự ngẫu nhiên, sự tình cờ, là do lòng ái quốc mà nên. Tác giả giải thích:
    Người [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] có cái hay là khi biết dùng bạo lực cải hại thân vào tù, thì họ không dùng bạo lực. Họ cố đè nén lòng thương nước, chôn giấu trong một bề ngoài lêu lổng, chơi bời...Họ (những tài tử) thường tụ họp vừa tập ca cho vui, vừa trau giồi nghệ thuật...rồi mỗi khi có đám tang, vào lúc canh khuya...họ cũng hòa đờn, tập dượt ca cho đúng nhịp, để đánh cơn buồn ngủ. Sau thành thói tục, mỗi dịp “quan - hôn - tang - tế” (chủ nhà) đều có mời họ cho rôm đám.[Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] Khi ấy, Đàn ca tài tử gồm hai nhóm:

    • Nhóm tài tử [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ], như: Bầu An, Lê Tài Khị (Nhạc Khị), Nguyễn Quan Đại (Ba Đợi), Trần Quang Diệm, Tống Hữu Định, Kinh Lịch Qườn, Phạm Đăng Đàn...
    • Nhóm tài tử [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ], như: Nguyễn Liên Phong, Phan Hiển Đạo, Nguyễn Tùng Bá...

    Đến lối Ca ra bộ

    Qua lối năm [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ], ông Trần Văn Khải kể:
    Ở Mỹ Tho có ban tài tử của Nguyễn Tống Triều, người Cái Thia, tục gọi Tư Triều (đờn kìm), Mười Lý (thổi tiêu), Chín Quán (đờn độc huyền), Bảy Vô (đờn cò), cô Hai Nhiễu (đờn tranh), cô Ba Đắc (ca sĩ). Phần nhiều tài tử nầy được chọn đi trình bày cổ nhạc Việt Nam tại cuộc triển lãm ở Pháp. Khi về, họ cho biết rằng Ban tổ chức có cho họ được đờn ca trên sân khấu và được công chúng đến xem đông đảo...[Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] Nghe được cách cho "đờn ca trên sân khấu", Thầy Hộ, chủ rạp chiếu bóng Casino, ở sau chợ [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ], bèn mời ban tài tử Tư Triều, đến trình diễn mỗi tối thứ tư và thứ bảy trên sân khấu, trước khi chiếu bóng, được công chúng hoan nghinh nhiệt liệt.
    Trong thời kỳ này, Mỹ Tho là đầu mối xe lửa đi Sài Gòn. Khách ở các tỉnh miền Tây muốn đi Sài Gòn đều phải ghé trạm Mỹ Tho. Trong số khách, có ông Phó Mười Hai ở Vĩnh Long là người hâm mộ cầm ca. Khi ông nghe cô Ba Đắc ca bài Tứ Đại, như bài “ Bùi Kiệm - Nguyệt Nga”, với một giọng gần như có đối đáp, nhưng cô không ra bộ. Khi về lại Vĩnh Long, ông liền cho người ca đứng trên bộ ván ngựa và "ca ra bộ"[Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]. Ca ra bộ phát sinh từ đó, lối năm 1915 - 1916.
    Cũng theo Vương Hồng Sển:
    các điệu ca ra bộ và cải lương sau này đều chịu ảnh hưởng của các buổi hát nhân những kỳ bãi tường do các trường trung học Taberd, Mỹ Tho, trường tỉnh [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]...Cho nên chúng ta không nên ơn các nhà tiền bối, phần đông là các giáo sư trường Pháp, đã có sáng kiến dìu dắt và dạy cho ta biết một nghệ thuật hát ca khác với điệu hát bội thời ấy...[Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] Nhà văn [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] còn cho biết:
    năm 1917, Lương Khắc Ninh, sành về hát bội, đã diễn thuyết tại hội khuyến học Sài Gòn: Người [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] ta thuở nay vẫn cho nghề hát là nghề hạ tiện, nên người có học thức một ít thì không làm…(nay) muốn cải lương phải làm sao?...Chuyện nói đây không khó. Có học trò trường Taberd đến lúc phát thưởng, nó ra hát theo Lang Sa (Pháp), bộ tịch như Lang Sa. Rất đổi là hát theo ngoại quốc, trẻ em còn làm được, hà huống người An Nam mà hát An Nam không được sao?...Rồi đoàn ca nhạc kịch bên Pháp mỗi năm sáu tháng đã đến Sài Gòn trình diễn, có màn có cảnh phân minh, mỗi tuồng dứt trọn một đêm. Công chúng người Việt hâm mộ, thấy hợp lý, thêm tranh cảnh gọi Sơn thủy, đẹp mắt.[Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] Và rồi ngay năm này (1917), ông André Thận (Lê Văn Thận) ở Sa Đéc lập gánh hát xiệc, có thêm ít màn ca ra bộ.

    Hình thành Cải lương

    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Từ Anh, Năm Châu, Tư Út, Phùng Há, Ba Liên trong tuồng Khúc Oan Vô Lượng, gánh Trần Đắc ([Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]) diễn trên sân khấu khoảng năm 1931


    Qua năm 1918, cũng theo Vương Hồng Sển, năm 1918, bỗng Tây thắng trận ngang ([Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]), mừng quá, toàn quyền Albert Sarraut nới tay cho phép phe trí thức bày ra một cuộc hát lấy tiền dâng “mẫu quốc” và cho phép lập hội gánh hát để dân bản xứ lãng quên việc nước, thừa dịp đó dân trong Nam bèn trau giồi nghề đờn ca và đưa tài tử salon lên sân khấu...[Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]. Nhân cơ hội ấy, ông Năm Tú (Châu Văn Tú) ở Mỹ Tho chuộc gánh của ông André Thận rồi sắm thêm màn cảnh, y phục và nhờ ông Trương Duy Toản soạn tuồng, đánh dấu sự ra đời của loại hình nghệ thuật cải lương.
    Đến năm 1920, cái tên “cải lương” xuất hiện lần đầu tiên trên bản hiệu gánh hát Tân Thịnh (1920) với câu liên đối:
    Cải cách hát ca theo tiến bộLương truyền tuồng tích sánh văn minh. Mặc dù Vương Hồng Sển đã nói cải lương hình thành lúc nào cũng không ai biết rõ, nhưng theo sự hiểu của ông thì:

    • Năm 1915 trở về trước, tại miền Nam, tài tử còn ca kiểu “độc thoại”.
    • Năm 1916, có ca kiểu "đối thoại" (ca ra bộ)
    • Đêm 16 tháng 11 năm 1918, tại Rạp Hát Tây Sài Gòn, có diễn tuồng Pháp - Việt nhứt gia (tức [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] tẩu quốc) đánh dấu thời kỳ phôi thai của cải lương.

    Sau đêm này, André Thận trước và Năm Tú sau, đã đưa cải lương lên sân khấu thiệt thọ. Năm 1922, tuồng Trang Tử thử vợ và tuồng Kim Vân Kiều diễn tại rạp Mỹ Tho rồi lên diễn tại rạp [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] và rạp Modern Sài Gòn...lúc này hát cải lương mới thành hình thật sự...[Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Và diễn biến tiếp theo của cải lương được Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam tóm gọn như sau:
    Những năm 1920 - 1930 là thời kì phát triển rực rỡ, nhiều gánh hát ra đời, nổi tiếng nhất là hai gánh Phước Cương Trần Đắc có dàn kịch gồm 3 loại: các tuồng tích của [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ], loại xã hội và loại phóng tác (như "Tơ vương đến thác", "Giá trị và danh dự").Trong thời kì 1930 - 1934, nghệ thuật cải lương lan truyền ra ngoài Bắc và nhiều nghệ sĩ xuất sắc xuất hiện như Năm Phỉ, [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ], Bảy Nhiêu, [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]... Thời kì kinh tế khủng hoảng, nhiều gánh hát tan rã. Dựa vào tâm lí của dân chúng ngả về tôn giáo, các gánh hát đua nhau diễn các tích về [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ], [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ], đi đầu là gánh hát Tân Thịnh.Từ 1934, xuất hiện phong trào "kiếm hiệp", đi đầu là gánh Nhạn Trắng và tác giả Mộng Vân người Bạc Liêu. Những vở nổi tiếng: "Chiếc lá vàng", "Bích Liên vương nữ", "Bảo Nguyệt Nương". Từ sau [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] đến nay... Nhiều vở diễn mới xuất hiện, nội dung phong phú và đa dạng.



    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
    ...ÂM NHẠC LÀ NHỮNG GÌ SỐNG TRONG TÔI...

  20. 13 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới AH_Studio cho bài viết hữu ích này:


Trang 1 của 2 12 CuốiCuối

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •