Forum Home Your IP: 54.162.239.233

Trang 1 của 3 123 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 22

Chủ đề: Lịch sử ra đời của đàn piano

  1. #1
    THCS
    Ngày tham gia
    04-06-2010
    Bài viết
    5
    Thanks
    2
    Được THANKS 67 lần

    Lịch sử ra đời của đàn piano

    Đàn piano có tên ban đầu là gravicembalo col piano e forte (đàn clavecin có âm thanh êm ái và mạnh mẽ). Ngày nay cây đàn piano không hổ danh khi được gọi là "ông hoàng của các loại nhạc cụ". ...Với âm vực rộng, âm sắc thánh thót, kiều diễm, khả năng biểu hiện phong phú, nhất là về mặt xử lý cường độ tinh tế - như chính tên gọi của nó. Song để có được như hôm nay, lịch sử cây đàn piano là cả một chặng đường dài với nhiều cải tiến thử nghiệm mà điều then chốt giúp nó trở thành "ông hoàng" lại là ý tưởng của một nhân viên bảo quản bảo tàng nhạc cụ.

    Những thủy tổ của đàn piano
    Từ đàn Clavicorde...đến Đàn Clavecin và Đàn Piano Hiện đại !

    Trước khi lên ngôi vị như hiện nay, piano đã phải sống với một địa vị “thấp kém”, chẳng ai ngó ngàng tới. Lúc đầu, hình dáng nó khác hẳn với cây piano ngày nay và điều đặc biệt là nó đã bắt đầu với chỉ có... một dây - đó là loại đàn độc huyền của người Hy Lạp. Thuở ban đầu, đàn này được dùng làm dụng cụ vật lý và trợ lực thị giác cho các triết gia thời cổ đại và các nhà tu hành thời Trung cổ để nghiên cứu những qui tắc ký âm pháp - một môn khoa học của thời đó.

    Một ngày kia, các nhà tu hành mới vào dòng tu ở một tu viện nảy ra ý nghĩ tập hợp nhiều đàn độc huyền lại và cho nó vang lên cùng một lúc để giải trí. Dưới mỗi dây đàn, họ đặt một giá đỡ và đính nó lại với một phím đàn. Khi lấy tay ấn xuống phím, giá đỡ chạm vào dây đàn và phát ra âm thanh. Đó là sự xuất hiện cây đàn phím đầu tiên - đàn clavicorde. Song vào thời đó (khoảng thế kỷ thứ 10), những giáo sĩ Trung cổ xem các tập hợp âm là sự phạm thượng vì Thượng đế chỉ thích các con chiên đồng ca một bè. Trong lúc đó, các nhạc sĩ dân gian đã sử dụng lối hát nhiều bè từ lâu. Vì vậy đàn clavicorde đã nhanh chóng vượt khỏi ranh giới nhà thờ để hòa mình vào đời sống âm nhạc “trần tục”.
    ...đến đàn clavecin - thủy tổ của đàn piano hiện đại.

    Hoà mình với cuộc sống những nghệ sĩ dân gian, đàn clavicorde chẳng hề cô độc vì chẳng bao lâu sau đó nó có một người bạn đang trưởng thành, đó là clavecin. So với clavicorde, đàn clavecin có những ưu điểm như: rất nhiều dây, mỗi phím ứng với một hoặc nhiều dây, trong lúc đàn clavicorde có khi có 4-5 giá đỡ và phím cho một dây (đến thế kỷ 18, clavicorde mới có số dây bằng số phím). Âm thanh của clavecin được tạo ra không phải là những giá đỡ chạm vào dây như của clavicorde mà là những lông quạ gảy vào dây, chính vì vậy mà âm thanh rõ ràng, trong sáng hơn. Âm thanh của nó đã mau chóng chinh phục mọi người, nó chỉ có một nhược điểm là dù tác động lên bàn phím mạnh hay nhẹ, âm thanh cũng phát ra với cường độ như nhau và đó cũng chính là điểm mấu chốt cần khắc phục để có thể nó lên ngôi.

    Đàn clavecin đầu tiên có hình chữ nhật sau đó nó được cải tiến có hình cánh chim thanh thoát như cây grand-piano hiện nay. Thêm vào đó, các nhà chế tạo đàn còn bổ sung các họa tiết trang trí cầu kỳ, sơn và đánh bóng thật đẹp, nó trở thành vật trang trí và là nhạc cụ thời thượng không thể thiếu trong các phòng khách quí tộc. Ngoài ra, clavecin được cải tiến một số chi tiết đáng kể như: các lông quạ được thay bằng các đũa gảy bằng da hoặc kim loại, dây đàn bằng ruột súc vật thay bằng đồng thau. Nhạc cụ có âm thanh vang hơn và mang màu sắc mới. Song mặc dù được cải tiến nhiều, các nhạc sĩ rất ưa thích nó, nhưng họ cũng muốn clavecin có thể thay đổi cường độ để tạo những sắc thái tình cảm, muốn âm thanh ngân dài hơn, phong phú và truyền cảm hơn...

    Dù đã được cải tiến rất nhiều nhưng clavecin chưa thật sự làm hài lòng các nhạc sĩ.

    Vào khoảng cuối thế kỷ 17 tại Bảo tàng nhạc cụ thành phố Florence nước Ý, có một nhân viên quản lý tên Bartolomeo Cristofori. Ông suốt đời sống giữa các cây đàn clavicorde, clavecin và tâm trí luôn nghĩ tới những dự kiến cải tiến đàn clavecin. Phát minh của ông rất đơn giản: thay các que gảy dây bằng các búa nhỏ đập vào dây, đập mạnh hay yếu ta sẽ có được âm thanh lớn hoặc nhỏ. Thật ra điều này không phải là mới, thời cổ xưa người ta đã chơi đàn tympanon bằng cách gõ vào dây. Vấn đề ở chỗ là làm cho búa gõ lên dây đàn liên hệ chặt chẽ với lực tác động lên bàn phím, để ấn mạnh lên phím đàn sẽ có âm thanh lớn, ấn nhẹ thì có âm thanh nhỏ hơn.

    Người ta không biết Bartolomeo Cristofori mất bao nhiêu thời gian và thử nghiệm bao nhiêu giải pháp, nhưng năm 1709 những người đến bảo tàng Florence đã có thể chiêm ngưỡng bốn cây đàn clavecin cải tiến do ông chế tạo với cái tên gọi mới cũng do ông đặt là gravicembalo col piano e forte (mà sau này người ta gọi tắt là piano). Giải pháp ưu việt cuối cùng của ông là tạo ra một thiết bị tinh xảo gồm một đòn bẩy kép có gắn một búa nhỏ, nhẹ, bọc da, gắn với phím đàn và chịu tác động trực tiếp của lực tác động lên phím. Búa đập vào dây đàn để tạo âm thanh và có bộ phận tắt âm bằng dạ khi ngón tay không còn ấn xuống phím đàn nữa.

    Những cây đàn này sau đó được trình cho người bảo trợ ông là công tước Ferdinand de Médicis và vào năm 1711, Scipione Maffei đã miêu tả nhạc cụ này trong tạp chí “Văn chương nước Ý”.

    Tuy đàn piano có nhiều ưu điểm, nó vẫn chưa được các nhạc sĩ dùng ngay và Bartolomeo Cristofori đã chết trong nghèo túng vào năm 1731, không kịp chứng kiến phút đăng quang của đứa con do mình tạo ra và bản thân ông cũng không được nhiều người biết đến.

    Đàn piano sau đó được các nhạc sĩ như J.S.Bach, W.A.Mozart, L.V.Beethoven tiếp nhận và thổi vào cho nó những giai điệu mê hoặc. Cùng với sự nhạy cảm về cường độ, âm thanh trong sáng, kiều diễm, nhiều sắc thái, các phòng hòa nhạc đã mở toang cửa đón nhận nó.

    Đàn piano hiện đại

    Đàn piano với âm thanh và sắc thái phong phú, tinh tế, khi thì vang dội như sấm sét, khi thì nhỏ nhẹ, êm ái, đã chinh phục được giới nhạc sĩ cũng như người yêu âm nhạc. Thành công ban đầu của đàn piano đã thúc đẩy các nhà chế tạo nhạc cụ tiếp tục cải tiến để làm nó ngày càng hoàn hảo. Đàn piano ngày nay là sản phẩm cải tiến của rất nhiều thế hệ nghệ nhân chế tạo đàn. Hiện nay đàn piano đã đạt tới sự hoàn chỉnh về cơ học, một động tác nhấn nhẹ lên phím cũng truyền đến được dây đàn. Ngay cả những khi thực hiện kỹ thuật trémolo với tốc độ nhanh nhất và sắc thái nhẹ nhất, đàn vẫn không bị "nghẹt tiếng".

    Cho đến ngày nay, những cải tiến đáng chú ý có thể kể như sau: việc phát minh ra hệ thống pédal (bàn đạp) để ngân dài âm thanh hoặc tắt âm thanh theo ý muốn. Dây đàn cũng được thay đổi, trước đây người ta dùng dây bằng đồng thau thay cho ruột súc vật, ngày nay dây đàn dùng một lõi thép đặc biệt bên ngoài quấn dây đồng cho chất lượng âm thanh tốt hơn. Việc bố trí dây đàn cũng có nhiều thay đổi, người ta có thể căng 2 hoặc 3 hàng dây chồng lên nhau, giảm bớt được diện tích mà tăng được số lượng âm thanh. Dây đàn cũng được kéo căng hơn để cho những âm thanh sáng, vang, trong hơn... Cũng chính vì thế mà khung mắc dây của đàn phải chịu một lực căng rất lớn (khoảng 20 tấn), nên khung mắc dây đã được thay bằng một khung bằng gang.

    Tuy những cải tiến giúp chúng ta có được cây đàn piano hoàn hảo như ngày nay, nhưng tất cả đều dựa trên phát minh của Bartolomeo Cristofori. Để tưởng nhớ công lao của Bartolomeo Cristofori, 150 năm sau khi ông mất, người ta đã dựng một đài tưởng niệm tại thành phố Padoue - nơi chôn nhau cắt rốn của ông.

  2. 26 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới lyhuyen47 cho bài viết hữu ích này:


  3. #2
    ViAnhEm.com Supporter
    Dongiangsinh's Avatar
    Ngày tham gia
    16-03-2010
    Đang ở
    GIA KIỆM CITY
    Bài viết
    456
    Thanks
    3,158
    Được THANKS 4,732 lần
    :o52IANO:o76:
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Dương cầm, tên trong tiếng Việt của piano, là một nhạc cụ thuộc bộ gõ, rất phổ biến và được ưa chuộng trên toàn thế giới.
    Piano có nhiều ứng dụng thực tế trong biểu diễn và sáng tác âm nhạc, trong nhiều thể loại âm nhạc: nhạc cổ điển và nhạc hiện đại.Piano được dùng phổ biến trong nhạc jazz, nó thường chơi solo như một nhạc cụ độc lập trên nền nhạc, hoặc cũng có thể đệm cho các nhạc cụ khác hoặc cho người hát.Có nhiều thể loại nhạc cổ điển được soạn riêng cho đàn dương cầm: sonataconcerto cho piano và dàn nhạc, mazurka, polonaise, rondo, nocturne... Piano đựơc dùng phổ biến trong các thể loại nhạc khác với vai trò là nhạc cụ đệm cho người hát, hoặc là nhạc cụ độc tấu các bản nhạc không lời được chuyển soạn cho piano. cho piano,
    Tiền thân của piano :y66:
    Harpsichord
    Harpsichord là một nhạc cụ xuất hiện từ thế kỉ 15. Đó là một nhạc cụ có phím và dây, trong đó dây được gẩy bằng một mẩu lông quạ gắn ở cuối phím. Harpsichord có nhiều kiểu hình dáng và có thể có dạng giống như một chiếc piano lớn. Mặc dù harpsichord rất phổ biến trong vài thế kỉ và được nhiều nhà soạn nhạc lừng danh như J. S. Bach sử dụng, nó có một nhược điểm lớn: không có khả năng phát tiếng to nhỏ theo độ mạnh nhẹ khi bấm của người chơi.

    Clavichord
    Clavichord là một trong những nhạc cụ phím đơn giản và nhỏ nhất mà âm thanh được phát ra bằng dây. Dựa trên các hình vẽ và ghi ghép, người ta cho rằng clavichord, với hình dạng giống như một số mẫu hiện còn tồn tại, đã xuất hiện từ những năm đầu thế kỉ 15. Clavichord được sử dụng rộng rãi ở Tây Âu vào thời Phục hưng và ở Đức cho đến đầu thế kỉ 19, nhưng chỉ đựơc coi như một nhạc cụ để học và chơi chứ ít khi dùng để sáng tác. Khi người chơi bấm vào phím, một mảnh kim loại bật lên và đập vào dây đàn. Mảnh kim loại còn có tác dụng như một thanh chặn dây, và nốt nhạc được ngân lên cho đến khi phím đàn được thả ra. Hệ thống đơn giản này giúp cho người đọc kiểm soát được cường độ và trường độ của âm thanh.
    Pianoforte:o76:

    Năm 1709, người thợ chế tạo harpsichord người Ý Bartolomeo Cristofori chế tạo chiếc piano đầu tiên trên thế giới gọi là piano et forte (mạnh và nhẹ). Không lâu sau, những người thợ khác tạo ra những chiếc pianoforte với búa. Tiếp đó, pianoforte thay thế harpsichord và clavichord bởi nó có những ưu điểm mà các nhạc cụ phím khác không có. Fortepiano là một nhạc cụ dây-búa có khả năng tạo ra những sự thay đổi âm thanh nhỏ thông qua sự bấm phím mạnh hay nhẹ của người chơi. Đến khoảng năm 1850, từ "fortepiano" được thay thế bởi từ "piano". Vào những năm đầu thế kỉ 18, piano không mấy thu hút được sự chú ý và ủng hộ. J.S. Bach có lẽ thích clavichord, nhạc cụ mà ông đã quen chơi và cũng là nhạc cụ chơi dễ hơn.
    Piano vuông:y16:
    Vào khoảng 1760, Johannes Zumpe chế tạo chiếc piano vuông kiểu Anh lần đầu tiên tại London (sau được biết đến với cái tên "piano vuông lớn"). Sau đó không lâu, Broadwood ở London và Erard ở Pháp cũng chế tạo ra những chiếc tương tự. Johann Behrend ở Philadelphia trưng bày chiếc đàn vuông của ông vào năm 1775. Những chiếc đàn vuông này có tiếng hơi yếu yếu và không thể so sánh được với chiếc pianoforte lớn (kiểu có nắp rộng bản). Thêm vào đó, những chiếc piano vuông không có cơ cấu nhấc và búa của chúng không thể gõ vào dây một cách liên tục. Ngoài ra, búa đàn, làm bằng những mảnh gỗ nhỏ với một lớp da mỏng, đều cùng một kích thước dù chúng phải gõ lên những dây bass lớn nhất. Rất nhiều công ty sản xuất piano hàng đầu của Mĩ chế tạo những chiếc piano vuông lớn được đẽo nhằm mục đích trang trí trong suốt thập niên 1800, bao gồm Chickering, Knabe, Steinway và Mathushek. Mặc dù trong suốt 75 năm sau đã có một số thay đổi về chế tạo đàn piano, chiếc piano vuông tiếp tục thống lĩnh thị trường, đặc biệt ở Mĩ.:**
    Một sự tụt hậu trong những nhạc cụ phím đầu tiên, bao gồm cả những chiếc piano vuông đầu tiên, chính là sự yếu ớt trong âm thanh. Yêu cầu phải có những âm thanh mạnh mẽ hơn chỉ có thể được thỏa mãn với việc sử dụng những dây nặng hơn và một khung âm lớn hơn. Cách giải quyết này rất hạn chế bởi khung gỗ không thể chịu đựng nổi sức căng của những dây nặng đó. Vào khoảng năm 1825, Alpheus Babcock đã chế tạo một khung sắt hoàn chỉnh. Tuy nhiên, phải đến 1837 Jonas Chickering mới hoàn chỉnh cấu tạo và nhận được bằng sáng chế không lâu sau đó. Mặc dù vẫn có những tranh cãi rằng khung sắt ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng âm thanh, cuối cùng khung sắt vẫn được ủng hộ. Vào năm 1855, Steinway trưng bày chiếc piano vuông theo kiểu dây đan tại hội chợ thế giới ở Thành phố New York và chứng minh rằng nó là một đối thủ đáng gờm của về chế tạo piano của Chickering. Thiết kế mới về cách mắc dây này đã tạo ra một sự thúc đẩy mạnh mẽ cho sự nghiên cứu chế tạo piano trong tương lai.

    Các kiểu đàn piano hiện tại


    Chi tiết bên trong của một cây đại dương cầm. Những mày đàn nằm giữa ngựa đàn và điểm móc cho phép tạo thêm âm bội phụ, làm giàu cho những nốt cao.


    Hiện nay, trên thị trường có 3 kiểu đàn dương cầm: dương cầm lớn, dương cầm đứng và kiểu lai giữa 2 loại trên.
    Những chiếc đàn đứng, dù chất lượng có cao đến mấy, không được những người chơi piano coi là nhạc cụ có chất lượng thuộc hàng chuyên nghiệp. Nhiều yếu tố dù đã được nghiên cứu hay chỉ là do sở thích là lí do cho sự đánh giá này. Một mục tiêu của các hãng sản xuất đàn đứng là mang lại chất lượng âm thanh giống như của đàn lớn cho những chiếc đàn đứng.
    Hình dánh của chiếc đàn đứng, ban đầu được chế tạo để dùng trong nhà, tạo ra một cảm giác thiếu dễ chịu theo một hướng. Đồng thời cũng rất khó để người chơi đàn quan sát nhạc công, để khán giả nhìn thấy người chơi và để âm thanh tỏa ra một cách truyền cảm cho khán giả.:n:
    Những chiếc đàn lớn có một hệ thống phím tận dụng trọng lượng của phím khiến cho phím trở về vị trí ban đầu. Đàn đứng lại sử dụng lò xo. Hệ thống phím là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến âm thanh từ đàn piano và ảnh hưởng đến đánh giá của người chơi đàn về chất lượng âm thanh.
    Những tấm chặn của đàn piano lớn có hiệu quả cao hơn bởi chúng chặn dây ở ngay chỗ búa gõ. Trong đàn đứng, những tấm chặn chặn ở bên dây và vì thế không đạt được hiệu quả như của đàn piano lớn. Tuy nhiên, hệ quả của quá trình chặn dây, một yếu tố rất quan trọng trong chất lượng âm thanh, lại chưa được nghiên cứu.
    Hình dáng của đàn lớn thích hợp hơn đàn đứng. Đối với đàn lớn, cả 2 bên hộp cộng hưởng đều được mở ra khiến cho âm thanh phát ra mà không bị cản trở. Đối với đàn đứng, hộp cộng hưởng của đàn bị ngăn cách với phòng bởi vỏ đàn và thường ở rất gần tường. Kết quả là âm thanh của đàn đứng mềm và đục hơn của đàn lớn.
    Hai chiếc đàn với cùng một hình dáng có thể có âm thanh hoàn toàn khác biệt bởi sự tinh xảo về cấu tạo. Đàn lớn tạo nên cảm giác phím chuẩn hơn, âm thanh tốt hơn, có những nguyên liệu tốt hơn và nhiều thứ khác. Những khác biệt do kĩ thuật chế tạo này có thể nghe thấy, và những người thợ sửa đàn có thể phân biệt được điều này.
    Nhiều sự vượt trội về âm thanh của cây đàn lớn là do kích cỡ của nó so với cây đàn đứng hiện tại. Những ưu điểm khác là do vị trí nằm ngang của dây và hộp cộng hưởng tạo điều kiện tốt hơn cho âm thanh tỏa ra.
    Dương cầm lai có ưu điểm của cả 2 loại trên: dây và hộp cộng hưởng nằm ngang, kích cỡ nhỏ có thể chứa trong phòng ở. Tuy nhiên, nó vẫn to hơn đàn đứng và chất lượng âm thanh, dù hơn đàn đứng, vẫn thua xa một cây đàn lớn đúng nghĩa.
    Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui...

  4. 16 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới Dongiangsinh cho bài viết hữu ích này:


  5. #3
    Nghiên Cứu Sinh
    AH_Studio's Avatar
    Ngày tham gia
    30-04-2010
    Đang ở
    Thanh Hóa
    Bài viết
    843
    Thanks
    1,319
    Được THANKS 5,051 lần
    Các kiểu đàn hiện tại (tiếp...)

    Chiếc grand piano sang trọng


    Chiếc grand piano sang trọng và quý fái
    Dáng vẻ hiện đại cũng có
    Cấu tạo sơ lược
    Phím đàn( keyboard) của đa số các loại đàn hiện nay gồm 36 phím đen và 52 phím trắng trên tổng số 88 phím , được sắp xếp theo âm vực thành 7 quãng 8. Phím tận cùng bên trái cho tới tận cùng bên phải thường là A0 đến C8 (A B C D E F G tương ứng với la si do re mi fa son)! Chất liệu của phím đàn piano cũng rất phong phú thường là gỗ hoặc ngà voi
    Bàn đạp (pedal) thông thường là 2 cũng có khi là 3 pedal
    Pedal trái là pedal êm. Khi ấn pedal này các búa được dịch chuyển về gần dây hơn, làm giảm lực mà búa đập vào dây khiến cho âm thanh phát ra êm và nhẹ!
    Pedal phải là pedal ngân! khi ấn pedal này, các miếng đệm chặn sẽ được kéo tách ra khỏi dây, khi búa gõ vào dây âm vang lên và ngân dài không dứt mặc dù đã thôi ấn phím. Ngoài ra do hiện tượng cộng hưởng, các dây liền kề sẽ bị rung theo tạo ra một hiệu ứng khá đáng kể.
    Pedal giữa giúp giữ cho các hợp âm được tấu lên đồng thời. It dùng với upright piano . Có thể dễ dàng quan sát được các búa và các thanh chặn hoạt động như thế nào khi bạn ở nắp của chiếc đàn ra:This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 766x1024.
    Thân đàn được làm bằng thứ gỗ đặc biệt đảm bảo chắc chắn không mối mọt và quan trọng nhất là đem lại những nhiệu quả âm thanh mong muốn!
    cấu tạo của piano cấu tạo của grand piano
    hệ thống đòn bẩy phức tạp

    1 chiếc upright

    Dây đàn là các dây đồng được chặp ghép 2 dây cho cùng 1 cao độ. các dây trầm có thêm lớp vỏ ngoài (gần tương tự như đàn guitar) cao độ càng lớn thì
    dây càng ngắn !
    Sức căng của bộ dây là rất lớn, với đàn dương cầm lớn là cỡ 20 tấn. Cho nên khung dây được làm bằng hợp kim hoặc bằng gang.

    Nhiều nguồn Internet
    ...ÂM NHẠC LÀ NHỮNG GÌ SỐNG TRONG TÔI...

  6. 13 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới AH_Studio cho bài viết hữu ích này:


  7. #4
    HungMusic_NT's Avatar
    Ngày tham gia
    11-01-2011
    Đang ở
    ♫ Khánh Hòa ♫
    Bài viết
    4,799
    Thanks
    14,793
    Được THANKS 24,254 lần
    Piano

    Anh: Piano; Pháp: Piano; Đức: Klavier; Ý: Pianoforte; TBN: Piano; phiên âm tiếng Việt: Pi-a-nô / Dương cầm

    I.Sơ lược về đàn piano
    Piano là tên một nhạc cụ thuộc loại có bàn phím (keyboard), nhạc cụ gõ (percussion) hay nhạc cụ dây (string), tùy thuộc vào cách thức phân loại. Đàn piano tạo ra âm thanh bằng cách gõ vào các sợi dây thép bằng những chiếc búa bọc nỉ bật lên ngay tức thì để cho dây đàn tiếp tục ngân vang ở tần số cộng hưởng của nó. Những rung động này được truyền qua các cầu đến bảng cộng hưởng (soundboard), bộ phận khuếch đại chúng. Âm vực của cây đàn piano ban đầu cũng chỉ có bốn, hay nhiều nhất là năm quãng tám giống như ở đàn harpsichord. Nhưng dần dần nó đã mở rộng tới trên bảy quãng tám vì những thay đổi cấu trúc đàn đã cho phép lực căng tăng lên tới vài tấn.

    Đàn piano được sử dụng rộng rãi trong âm nhạc phương Tây cho biểu diễn độc tấu, âm nhạc thính phòng và nhạc đệm. Nó cũng rất phổ biến với vai trò một phương tiện trợ giúp cho sáng tác và diễn tập. Mặc dù không thể mang vác và giá thành đắt đỏ, sự đa dụng và hiện diện khắp nơi của nó đã khiến nó nằm trong số những nhạc cụ quen thuộc nhất.

    Từ piano là dạng rút gọn của từ pianoforte, hiếm khi được dùng ngoại trừ trong ngôn ngữ trang trọng và có nguồn gốc từ cái tên gốc tiếng Ý của nhạc cụ là gravicèmbalo col piano e forte, (có nghĩa harpchichord với âm nhẹ và mạnh). Điều này có liên quan đến khả năng của đàn piano trong viêc tạo ra các nốt ở các mức độ sắc thái khác nhau phụ thuộc vào tốc độ và lực nhấn phím.

    Các đàn piano ngày nay có hai hình dạng cơ bản (với các phân loại nhỏ hơn của chúng) là piano cánh (grand piano) và piano đứng (upright piano hay vertical piano). Ngoài ra theo sự phát triển của kĩ thuật hiện đại, một số dạng piano khác cũng đã xuất hiện như piano tự động (player piano), piano đồ chơi (toy piano), piano đặt sẵn chương trình (prepared piano), piano kỹ thuật số (digital piano)…

    II.Lịch sử phát triển đàn piano

    1.Grand piano
    Những chiếc grand piano ngày nay được xây dựng trực tiếp từ những chiếc đàn clavico _clavecin (harpsichord) từ khoảng thế kỷ 16 và 17. Khoảng năm 1700, Bartolomeo Cristofori đã thử tạo ra một chiếc đàn harpsichord mà có thể biểu hiện âm nhạc một cách truyền cảm hơn, và đã tạo ra một bộ máy mà các búa gõ vào các dây, khác với đàn harpsichord là dùng quill (dụng cụ gảy đàn bằng ống lông) để gảy. Một đặc trưng lớn khác ở đàn piano thời đầu của ông là cơ cấu búa thoát, nó khiến cho búa tách rời khỏi phím một khi các nốt được đánh lên, và rồi chơi lại ở một vận tốc khác hẳn, làm thay đổi hẳn sự biểu cảm của chính các note đó. Những chiếc piano đầu tiên của Critofori vẫn còn chứa đựng rất nhiều nét giống với thiết kế của một cây đàn clavecin, còn âm thanh thì phần nhiều vẫn như thế, ngoại trừ việc là người chơi bấy giờ có thể chơi nhạc bằng việc nhấn vào bàn phím.

    Các thiết kế của Critofori không được biết đến mãi cho đến những năm cuối của 1700, khi các bản thiết kế piano của ông được xuất bản. Các nhà sản xuất như Gottfried Silbermann người Đức và học trò của ông là Christian Friederici và Johannes Zumpe bắt đầu phát triển piano với vai trò là một nhạc cụ độc lập với clavecin. Mặc dù lúc đầu ko được ấn tượng cho lắm nhưng được J.S.Bach ủng hộ năm 1747. Âm nhạc bắt đầu được viết riêng cho piano từ năm 1732 và kỷ nguyên của nó với vai trò một nhạc cụ dành cho biểu diễn bắt đầu.

    Sự phát triển của grand piano sau năm 1750 diễn ra theo hai hướng cơ bản. Ở Anh, đàn piano được thiết kế nặng hơn và phức tạp hơn, giống với những cây đàn ngày nay hơn. Ở Đức, một loại khác nhẹ hơn và cấu trúc đơn giản hơn được biết đến như một cây đàn xứ Vienna, được nhà sản xuất Johann Andreas Stein xây dựng, đó chính là những cây đàn mà Haydn, Mozartvà Beethoven đã chơi và soạn nhạc trên đó.

    Khi grand piano ngày càng phát triển, nó dần trở thành một nhạc cụ độc lập và cần làm cho âm thanh to hơn. Để tăng âm, các dây phải dầy hơn và bộ khung phải khoẻ hơn nữa, như thế có thể đạt được một áp lực lớn hơn. Bộ khung của đàn piano thông thường được làm bằng gỗ, trở nên dày hơn và nặng hơn và thanh chằng chéo giúp nó kiên cố hơn. Đến năm 1820, Thomas Allen thậm chí vẫn còn dùng các ống kim loại để giữ căng các dây, và một nhà sản xuất thành công người Anh là John Broadwood bắt đầu dùng các tấm bằng sắt để giữ cho chúng được căng lên, mà giờ đây các đĩa đó phần lớn được làm bằng kim loại hơn là bằng gỗ. Năm 1825 Alpheus Babcock sáng chế ra khung bằng gang và sau đó năm 1843, một người Mỹ là Jonas Chickering bắt đầu làm piano với một đĩa tròn vành, một nét đặc trưng của các piano cánh ngày nay. Một sự phát triển đáng chú ý khác là việc chằng các dây, được phát triển bởi Henri Pape năm 1828 và Steinway cấp bằng sáng chế năm 1859, ông đã đặt các dây bass dài hơn lên cao hơn các dây kim, giúp cho các dây dài hơn ở trong hộp ngắn hơn và đặt các dây bass ở giữa qua một bảng cộng hưởng (soundboard) để có một sự hồi âm tốt hơn.

    Grand piano được bắt đầu sản xuất hàng loạt vào những năm 1800, cùng với sự thành lập của các công ty như: John Broadwood & Sons,Jonas Chickering, Julius Blũthner, Ignaz Bosendorfer, Friedrich Bechstein, Henry Steinway và Sebastien Erard, những công ty này hoàn toàn phát triển từ nền tảng của mẫu đàn cánh đó tới năm 1821.

    2.Vertical piano
    Sự thử nghiệm đầu tiên để tạo ra một vertical piano đứng xảy ra khoảng vào giữa năm 1735 và 1745. Một người Italia là Domenico Del Mela đã thiết kế một chiếc vertical piano năm 1739 sử dụng một cấu trúc đơn giản. Năm 1745 một người Đức là Christian Ernst Friederici lại tạo ra một loại nhạc cụ được biết đến là "Pyramid piano" (piano kim tự tháp), sở dĩ có tên như vậy là vì hình dáng đặc biệt của chúng. Friederici xuất phát từ cây đàn grand piano vốn có và kết hợp thiết kế hình dáng của vertical piano, nâng các dây và soundboard lên vuông góc với bàn phím và vì thế khiến chúng đứng thẳng, còn các trục lên dây ở dưới đáy của bộ dây, ngay trên các phím. Các cấu trúc piano mà Friederici sử dụng là một phiên bản giản đơn hoá từ một thiết kế của Bartolomeo Christofori năm 1720, tuy nhiên bộ cơ của Friederici thiếu mất các đặc trưng mô phỏng trong nguyên bản của Christofori. Toàn khối nhạc cụ đó được đặt đứng trên một cái bệ hoặc bàn và đằng trước có các cánh cửa có thể đóng mở tự động, để lộ ra bộ dây và soundboard. Các thiết kế này mới chỉ kết hợp giữa grand và vertical piano, sử dụng các dây và soundboard của vertical piano và bộ cơ của grand piano. Các mẫu này được đưa ra vào những năm 1800 nhưng rất mờ nhạt và thua kém so với những mẫu sau này, và đến năm 1840, pyramid piano và vertical piano đã cùng đồng thời bị ngừng sản xuất.

    Vertical piano còn tiến hoá đến tận cuối những năm 1780 với sự phát triển của một cấu trúc được thiết kế hoàn toàn thẳng đứng, theo sự thẳng hàng của bộ dây và soundboard. Những chiếc đàn đầu tiên được gọi là một "sticker" (gai), vì có những cái sticker dài làm bằng gỗ nối mặt sau của phím tới đầu cần. Đầu cần được dựng vuông góc với bộ dây và bắt đầu một quá trình bằng việc đầu cần đập trở lại các dây và cứ thế tiếp tục quay lại. Nó được John Landreth thiết kế vào năm 1787 và được William Southwell người Anh xây dựng và bổ sung năm 1798. Một sự phát triển quan trọng khác nữa là dây chằng chéo, giúp cho các dây ở đàn vertical piano dài hơn và cải thiện âm thanh. Năm 1831 Hermann Lichtenthal đã thiết kế ra một hệ thống mà ở đó búa được kiểm soát bằng độ dài của dải băng, như vậy sẽ không cần phải dồn các dây lên một cú đánh đơn lẻ nữa. Robert Wornum - người Anh đã tinh lọc cơ cấu tape-check, đó là cơ sở cho các bộ cơ của vertical piano ngày nay. Có 2 phương thức chống rung bộ dây khác nhau đã được cải tiến. Một cách là sử dụng hệ thống overdamper (giảm âm quá mức), ở đó một dây kim loại dài được gắn với đằng trước của mỗi đòn bẩy trung gian để đi lên và vượt qua đỉnh của các búa. Khi nhấn các phím, sợi dây sẽ chuyển động theo một liên kết để đặt một miếng nỉ hình vuông xuống các dây trước khi búa đập xuống và bật miếng nỉ trở lại khi không nhấn các phím nữa. Hệ thống này tiếp tục được sử dụng cho đến những năm cuối 1800 và rất phổ biến ở Anh và Đức. Hệ thống chống rung thứ hai là một đòn bẩy có bản lề, được nối tới đằng sau của mỗi máy búa gần bộ dây, nó xoay miếng nỉ vuông rời khỏi dây bằng một vòng xích tới đòn bẩy trung gian. Thiết kế này có hiệu quả hơn trong việc chống rung và được sử dụng ở các vertical piano ngày nay. Mẫu vertical piano đã tương đối hoàn chỉnh và các cây đàn ngày nay cơ bản là không thay đổi gì so với những thiết kế từ những năm đầu 1800 đó.

    Đến năm 1840, vertical piano tương tự như những gì chúng ta thấy ngày nay, mặc dù có nhỏ hơn và với cấu trúc tinh vi hơn. Các dây giờ đây chạy thẳng từ đỉnh xuống đáy thùng (mà giờ đây được đặt dưới đất chứ ko phải trên một cái bàn như ở pyramid piano). Hệ thống lên dây giờ đây được đặt ở đỉnh của hộp đàn, với các dây chạy chéo xuống hộp đàn và được gắn chặt ở đáy. Bộ cơ và bàn phím nằm ở trung tâm của bộ dây với một phím đẩy sticker lên cao và làm các búa chuyển động lại về hướng các dây.

    Những năm sau này, các nhà sản xuất đua nhau làm ra những chiếc đàn piano với những cải tiến hoặc biến đổi khác nhau. Có rất nhiều tên tuổi lớn trong làng sản xuất piano với những nhãn hiệu nổi tiếng và được tín nhiệm như : Broadwood, Baldwin, Marshall& Rose, Kemble,Yamaha, Kawai, Whelpdale & Maxwell, Steinway, Wendl & Lung…. mà ở mỗi hãng, cây đàn lại có một phong cách hay đặc trưng riêng biệt. Thế kỷ 20 đựơc nhìn nhận là có nhiều cuộc chạy đua về kỹ thuật và mẫu mã của cây đàn, hết phóng to lại thu nhỏ, thêm một bộ phận này, bớt một bộ phận khác, tuy vậy, về tổng thể, những thay đổi đó vẫn dựa trên những nguyên mẫu từ thế kỉ 19.


  8. 10 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới HungMusic_NT cho bài viết hữu ích này:


  9. #5
    HungMusic_NT's Avatar
    Ngày tham gia
    11-01-2011
    Đang ở
    ♫ Khánh Hòa ♫
    Bài viết
    4,799
    Thanks
    14,793
    Được THANKS 24,254 lần
    III.Cấu trúc đàn piano ngày nay



    Biểu đồ 1

    Cây piano hiện đại có 6 bộ phận chính (những bộ phận của piano được đánh số trong biểu đồ 1)

    1.Khung đàn (Frame): thường được làm bằng sắt, ở rìa sau gắn thanh chốt dây để cài chặt một đầu dây đàn. Ở rìa trước là tấm khóa lên dây, gồm nhiều chốt lên dây. Đầu dây đàn còn lại được quấn quanh chốt lên dây. Độ căng của dây (cao độ của nốt) được cân chỉnh bằng cách vặn các chốt lên dây này.

    2.Bảng cộng hưởng (Soundboard): làm bằng gỗ vân sam mỏng và cứng, đặt ở dưới lớp dây đàn, có tác dụng tăng âm bằng rung động cộng hưởng.

    3.Dây đàn (String): được làm từ dây thép, có độ dài và độ dày tăng dần lên theo cao độ giảm dần. 2 hoặc 3 dây đàn có độ cao như nhau được sử dụng cho mỗi nốt âm cao. Những nốt có âm thấp hơn chỉ dùng một dây độc lập, có kích thước lớn và được làm nặng hơn bằng cách cuộn những sợi dây đồng mỏng xung quanh dây.

    4.Bộ cơ (Action): bao gồm tất cả các bộ phận khiến đầu búa chuyển động, chạm tới dây đàn. Bộ phận có thể nhìn thấy rõ nhất chính là bàn phím, được điều khiển trực tiếp bằng ngón tay người chơi. Các phím đàn trắng được làm bằng nhựa hoặc ngà voi, các phím đen được làm bằng nhựa hoặc gỗ mun.

    5.Bộ pedals (bàn đạp): là các cần điều khiển bằng chân. Pedal vang âm (phía bên phải - damper pedal) giữ "bàn phím chặn âm" tách khỏi dây đàn, cho phép dây đàn rung một thời gian dài - tạo ra âm thanh ngân vang ngay cả khi tay đã buông khỏi phím đàn. Pedal giảm âm (phía bên trái - còn gọi là una corda) làm giảm một nửa khoảng cách giữa đầu búa và dây đàn, hoặc là chuyển vị trí của đầu búa một chút sang bên cạnh, khiến đầu búa chỉ chạm vào một dây đàn thay vì 2 hay 3 dây như bình thường, làm giảm cường độ âm thanh. Có những cây đàn piano có thêm pedal thứ 3, pedal duy trì (sustaining pedal). Pedal này không giữ toàn bộ bàn phím chặn âm. Khi phím đàn được nhấn xuống, phím chặn âm tương ứng của nốt đó sẽ được nâng lên, pedal duy trì sẽ chỉ giữ riêng biệt phím chặn âm này và không ảnh hưởng tới các phím chặn âm khác.

    Việc sử dụng những chiếc pedal này có khả năng tạo ra những thay đổi âm thanh tinh tế. Phần lớn những cây vertical piano thay Pedal duy trì bằng pedal tập luyện (pratise pedal) có tác dụng đặt tấm nỉ vào giữa đầu búa và dây, tạo ra âm thanh rất nhỏ.

    6. Hộp đàn (Case) tạo nên hình dáng đàn và là cơ sở để người ta phân loại đàn piano thành grand piano (piano cánh), square piano (piano vuông) và vertical piano (piano đứng). Loại piano vuông (chính xác là hình chữ nhật) không còn được sản xuất nữa, nó được thay thế hoàn toàn bằng những chiếc vertical piano chiếm ít diện tích hơn. Loại grand piano được chế tạo với nhiều kích cỡ khác nhau, từ kiểu đàn concert dùng trong các buổi hòa nhạc dài 2,69m (tương đương 8 ft 10 inch) cho tới còn những chiếc baby grand chỉ dài 1,8m.

    Kiểu đàn vertical piano cũng bao gồm cả loại đàn vertical piano kích thước nhỏ của những năm cuối thế kỉ thứ 19 giống như đàn spinet ngày nay (đàn harpsichord loại nhỏ) và đàn piano hộp. Ở đàn piano đứng dây đàn chạy dọc hoặc chéo từ trên xuống dưới. Ở đàn piano đứng và những đàn cơ nhỏ đôi khi người ta xếp chồng dây đàn: dây đàn những nốt trầm được căng chéo phía trên các dây ngắn của âm khu cao. Bằng cách này chúng có thể tăng thêm độ dài và cải thiện chất lượng âm thanh. Tổng lực căng dây trên một cây đàn cơ vào khoảng 30 tấn, còn của một cây đàn đứng khoảng 14 tấn.


    IV.Cơ chế hoạt động của đàn piano


    Biểu đồ 2

    Về cơ bản, khi phím đàn được nhấn xuống phần cuối của đòn bẩy sẽ đẩy trục đứng lên trên khiến đầu búa gõ vào dây đàn. Cùng lúc đó phím chặn âm được nâng lên khỏi dây đàn để chúng rung tự do tạo ra âm thanh.

    Sau đây là miêu tả chi tiết với các số thứ tự được đánh như trong biểu đồ 2 :
    Mỗi phím đàn (1) là một đòn bẩy, có điểm tựa ở một trục thăng bằng (2). Khi người chơi nhấn một phím đàn xuống, phần đuôi đòn bẩy được nâng lên khiến trục đứng (3) đẩy khớp nối (4) một đầu được giữ chặt lên. Đầu tự do của khớp nối kéo theo chi tiết hình chữ L được gọi là đòn bẩy thoát (5) (escapement lever) và đòn bẩy lặp (9) (repetition lever).

    Đòn bẩy thoát đẩy con lăn (6), một cuộn nỉ được gắn chặn vào cán búa (7), đẩy đầu búa lên cao. Đòn bẩy thoát dừng lại khi mà phần đuôi nhô ra của nó chạm vào nút chỉnh (8). Đầu búa rời khỏi đòn bẩy thoát và gõ vào dây đàn. Đòn bẩy lặp cũng được nâng lên, nhưng chỉ tới khi khi đòn bẩy thoát vượt qua nó và chạm vào chiếc ốc rơi (10). Đòn bẩy lặp giữ nguyên vị trí này cho đến lúc phím đàn được thả ra.

    Sau đó búa rơi một nửa đường về vị trí cũ. Nó bị chặn lại bởi con lăn và chạm vào đòn bẩy lặp đang ở vị trí được nâng lên cao. Đòn bẩy thoát vì vậy có thể trượt phía dưới cán búa vẫn đang được nâng lên một nửa để trở về vị trí ban đầu của nó. Trong lúc đó, búa kiểm tra (11) ngăn đầu búa gõ lại vào dây đàn.

    Nếu phím đàn được thả ra một phần, búa gõ thoát khỏi búa kiểm tra trong khi đòn bẩy vẫn giữ nguyên ở trạng thái nâng lên. Nếu người chơi lại ấn phím đàn này xuống, đòn bẩy thoát có thể một lần nữa đẩy con lăn và làm cho đầu búa nâng lên, gõ vào dây đàn. (Hệ thống này cho phép sự lặp lại liên tục của một nốt trước khi phím đàn và chiếc búa kịp quay trở về vị trí ban đầu của chúng. Đây là một cải tiến quan trọng so với cơ cấu đơn giản của thời kỳ đầu.)

    Trong lúc này, phần đuôi của phím đàn đẩy phím chặn tiếng (12) lên phía trên, nâng nó lên khỏi dây đàn. Khi mà phím đàn đã được thả lỏng một phần nào, phím chặn tiếng rơi ngược lại lên dây đàn làm tắt tiếng đàn.

    Khi phím đàn được thả ra hoàn toàn, toàn bộ cơ cấu lại trở về vị trí đầu tiên nhờ trọng lực. Không giống với những chiếc grand piano, vertical piano không thể dựa vào trọng lực để buộc mọi thứ trở về vị trí ban đầu. Ở grand piano, các bộ phận đặt nằm ngang trên phím đàn, còn với vertical piano thì bộ cơ lại được xếp gần vuông góc. Vì không thể chỉ dựa vào trọng lực nên nó dùng thêm các loại dây và những băng vải nhỏ để kéo các phần của bộ cơ trở về vị trí cũ.

    IV.Một số nghệ sĩ độc tấu nổi tiếng
    Piano vẫn luôn là nhạc cụ dành cho những nghệ sĩ bậc thầy. Vào thế kỷ XVIII và XIX các nhà soạn nhạc vẫn thường chơi các tác phẩm của chính mình, trong số đó có Wolfgang Amadeus Mozart, Ludwig van Beethoven, Frédéric Chopin và cả nhà soạn nhạc người Hungary Franz Liszt... Nữ nghệ sĩ piano nổi tiếng người Đức Clara Schumann thì chơi những tác phẩm của chồng bà, nhạc sĩ Robert Schumann. Cuối thế kỉ XIX là thời kì độc tôn của nghệ sĩ người Nga Anton Rubinstein, và đến đầu thế kỷ XX rất nhiều các nghệ sĩ biểu diễn khác đã đi lưu diễn khắp Tây Âu và Mỹ. Trong số đó có thể kể đến nghệ sĩ người Ba Lan Ignace Paderewski, nghệ sĩ người Mỹ gốc Ba Lan Josef HofmannArthur Rubinstein. Trong thời kì giữa Chiến tranh Thế giới I và II (1918 – 1939), nhà soạn nhạc và nghệ sĩ biểu diễn người Mĩ gốc Nga Sergei Rachmaninov, nghệ sĩ người Mỹ gốc Áo Artur Schnabel, nghệ sĩ người Anh Dame Myra Hess, nghệ sĩ người Đức Walter Gieseking và nghệ sĩ người Brasil Guiomar Novaes là những nghệ sĩ độc tấu piano được biết đến nhiều nhất. Sau khi thế chiến thứ II kết thúc vào năm 1945, các nghệ sĩ piano người Nga đã xuất hiện trở lại ở Mỹ, hai trong số họ là Emil GilelsSviatoslav Richter. Trong số những nghệ sĩ độc tấu piano nổi tiếng còn có nghệ sĩ người Chile Claudio Arrau, một bậc thầy với mảng tác phẩm biểu diễn đặc biệt rộng; Rudolf Serkin, một giáo viên - nghệ sĩ piano người Mỹ sinh ở Séc; nghệ sĩ thiên tài người Mỹ gốc Nga Vladimir Horowitz và nghệ sĩ người Tây Ban Nha Alicia de Larrocha. Một số nghệ sĩ được đánh giá cao khác xuất hiện sau Chiến tranh thế giới thứ II là nghệ sĩ người Anh gốc Áo Alfred Brendel, người bằng những hiểu biết và tài năng của mình đã khơi dậy những cuộc tranh luận về nghệ thuật vốn đã chìm lặng từ lâu; nghệ sĩ người Canada Glenn Gould, người rất được tán thưởng bởi những thu âm các tác phẩm của Bach, hay các nghệ sĩ người Mỹ Van Cliburn, André Watts, Murray Perahia và nghệ sĩ người Iceland gốc Nga Vladimir Ashkenazy. Ngày nay, với khả năng kỹ thuật của các nghệ sĩ piano ngày càng tăng, con số về các cuộc thi piano mang tầm cỡ quốc tế đã tăng lên một cách đáng kể, tạo nên một sự quan tâm đặc biệt của mọi người và là bước đầu cho việc xây dựng sự nghiệp của những nghệ sĩ mới đầy triển vọng.


  10. 13 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới HungMusic_NT cho bài viết hữu ích này:


  11. #6
    THCS
    Ngày tham gia
    15-12-2011
    Đang ở
    tp. HCM
    Bài viết
    3
    Thanks
    1
    Được THANKS 9 lần

    Thông tin thật sự quý giá và hữu ích

    Biết cách chơi, chơi hay đã rất khó rồi, nhưng thiếu sót nếu không biết những thông tin này. Cám ơn đã chia sẻ nhé. Thế mới biết bể học thật là bao la.

  12. 3 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới kwalk99 cho bài viết hữu ích này:


  13. #7
    THCS
    Ngày tham gia
    18-11-2011
    Đang ở
    ád
    Bài viết
    6
    Thanks
    5
    Thanked 10 Times in 1 Post
    Thông tin cua bạn thật là bổ ích ^^

  14. #8
    THCS
    Ngày tham gia
    09-09-2010
    Đang ở
    tp hcm
    Bài viết
    4
    Thanks
    13
    Được THANKS 0 lần
    Vậy chiếc piano đầu tiên còn không các bạn

  15. #9
    THCS
    Ngày tham gia
    13-09-2011
    Đang ở
    HCM
    Bài viết
    7
    Thanks
    1
    Được THANKS 5 lần

    Những dòng đàn piano thông dụng ở Việt Nam

    Nhắc đến đàn piano, nhiều người sẽ cho rằng loại nhạc cụ này chỉ dành cho người giàu, nó quá xa xỉ đối với người dân Việt Nam.

    Đó là những quan điểm sai lầm, hiện nay ở Việt Nam, không chỉ những người giàu mới có thể sở hữu cho mình một cây đàn piano. Đàn piano có nhiều mức giá khác nhau, tầm hơn 10 triệu cũng có, vài chục triệu cũng có, vài trăm triệu cũng có và ngay cả đến vài tỷ cũng có. Với mức giá này, không chỉ người giàu mà đối với những nhà có kinh tế trung bình cũng có thể sắm cho mình 1 cây đàn piano.

    Hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều loại đàn piano, rất nhiều thương hiệu piano, vì vậy để lựa chọn cho mình một cây piano như ý vừa túi tiền lại vừa tốt quả thật là rất khó. Để giúp cho việc lựa chọn đàn piano của khách hàng được tiện lợi hơn, chúng tôi sẽ phân loại theo giá tiền, theo thương hiệu một số loại piano thông dụng ở Việt Nam để cho khách hàng đỡ mất thời gian và suy nghĩ hơn trong việc lựa chọn piano của mình.



    Giá từ 10 triệu đến 15 triệu: Với tầm giá này, bạn chỉ có lựa chọn duy nhất là đàn piano điện. Nhưng đàn piano điện thì cũng có nhiều loại, nhiều thương hiệu khác nhau, nên với mức giá này thì phù hợp nhất với bạn là đàn piano điện casio CDP-200R

    Giá từ 15 đến 20 triệu: Mức giá này thì có nhiều lựa chọn cho bạn hơn, nhưng ở mức giá này thì bạn vẫn chỉ có thể chọn đàn piano điện mà thôi, chưa thể chọn đàn piano cơ được. Các loại đàn piano mà bạn có thể chọn ở mức giá này là: Casio PX-750, Casio PX-150, Casio PX-330, Casio PX-350, Casio PX-730, Casio PX-735, Casio PX-830, Casio AP-220....

    Giá từ 20 đến 35 triệu: Ở mức giá này, bạn đã có thể lựa chọn cho mình 1 cây đàn piano điện cực tốt hoặc là 1 cây đàn piano cũ của những hãng sản xuất piano chưa nổi tiếng lắm như APOLO, Atlas...

    Các loại đàn piano điện mà bạn có thể chọn ở mức giá này là: Casio AP-250, Casio AP-450, Casio AP-620, Casio AP-650, Roland RP-301, Roland RP-301R, Roland F-120....



    Giá từ 35 đến 50 triệu: Ở mức giá này thì thỏa sức cho bạn lựa chọn từ đàn piano cơ mới, đàn piano cũ hay đàn piano điện

    Các loại đàn piano mới ở mức giá này là: Ritmuller UP110R2, Ritmuller UP120R màu đen....

    Các loại đàn piano cũ ở mức giá này là: Yamaha U1, Yamaha U2, Yamaha U3 (tùy theo series), Kawai BL-12, Kawai BL-31, Kawai BL-51, Kawai BL-71....

    Các loại đàn piano điện ở mức giá này là: Roland FP-4F, Roland FP-7F....

    Giá từ 50 đến 100 triệu: Ở giá này thì không còn gì phải bàn nữa, bạn có thể sở hữu cho mình 1 cây đàn piano tuyệt hảo, âm thanh hay, kiểu dáng đẹp. Rất nhiều sản phẩm ở mức giá này được sử dụng tại Việt Nam như

    - Đàn piano mới: Kawai K-2, Ritmuller UP120 màu nâu và màu trắng, Ritmuller UP123R, Ritmuller UP125R2, Ritmuller UP130R, Samick JS-600NAD, Samick JS-143T, Samick JS-143F, SAMICK JS-118FD, Samick JS-300NSTD.....

    - Đàn piano cũ: Yamaha UX, Yamaha U30A, Yamaha W102B...

    Đàn piano điện: Roland V-piano, Roland V-Grand piano, Roland HP-305, Roland HP-207, Roland HP-307.....



    Giá trên 100 triệu: Ở mức giá thì thì đúng như người ta nghĩ, piano dành cho người giàu, nó có vô vàn sản phẩm cho bạn lựa chọn ở mức giá này, từ piano mới, piano cũ, piano đứng hay piano nằm, tất cả đều có thể đáp ứng cho yêu cầu của bạn, các thương hiệu Samick, Ritmuller, Kawai, Boston, Essex, Steinway & Son......

    Với mức giá và các sản phẩm như trên, chúng ta có thể dễ dàng trong việc lựa chọn đàn piano hơn, tất cả những sản phẩm mà chúng tôi liệt kê ra ở trên đều là những dòng sản phẩm rất thông dụng ở Việt Nam, một đất nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, ẩm ướt quanh năm, không thích hợp lắm với các loại đàn piano. Nhưng bằng những minh chứng cụ thể và qua các cuộc khảo sát mà chúng tôi đã thực hiện, cũng như việc trao đổi với nhiều khách hàng, chúng tôi có thể xác định những sản phẩm này được sử dụng rất rộng rãi ở Việt Nam, và là những dòng sản phẩm được sản xuất phù hợp với khí hậu Việt Nam.
    VAE TeamRemove backlink, liên hệ [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]

  16. 4 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới pianovietthanh cho bài viết hữu ích này:


  17. #10
    THCS
    Ngày tham gia
    21-06-2011
    Đang ở
    Viet Nam
    Bài viết
    9
    Thanks
    2
    Được THANKS 39 lần
    Đàn Piano - Vua của các loại nhạc cụ

    Piano là một loại nhạc cụ chơi bằng phím nhưng lại thuộc bộ Gõ, bộ tự thân vang do cấu trúc và cách tạo âm thanh của nó. Đã ra đời được hơn 300 năm, piano vẫn đang giữ một vị trí dẫn đầu trong tất cả các loại nhạc cụ và được mạnh danh là “Ông vua của các loại nhạc cụ”.

    Việc vận chuyển piano thật sự không phải là một điều dễ dàng và tốn khá nhiều chi phí bởi nó có kích thước và trọng lượng rất lớn. Nhưng không vì thế mà piano trở nên khó khăn trong việc sử dụng, chính tính linh hoạt và sự hiện diện khắp nơi của đàn piano đã làm cho nó trở thành một loại nhạc cụ quen thuộc nhất trên thế giới, piano có mặt ở hầu hết trong các buổi biểu diễn độc tấu, hòa tấu, nhạc thính phòng và đệm cũng như trong việc sáng tác nhạc và các biểu diểu diễn tập dợt.



    Tại sao Piano được coi là Vua nhạc cụ?

    Có nhiều người cho rằng đàn organ nhà thờ mới xứng đáng được gọi là “Ông vua của các loại nhạc cụ”. Tuy nhiên, đàn piano ngày càng được nhiều người yêu thích, đam mê và trở thành thần dân của ông vua này. Lý do khiến đàn piano có thể trở thành Ông vua của các loại nhạc cụ



    1. Piano là cây đàn lớn nhất trong các loại nhạc cụ. Có những cây đàn grand piano dài đến hơn 3m.

    2. Tính linh hoạt của piano hơn hẳn các nhạc cụ khác, kể cả violin cho dù có nhiều kỹ thuật biểu diễn mà chúng ta chỉ có thể thực hiện trên đàn violin chứ không thể hoặc rất khó thực hiện trên đàn piano.

    3. Có thể là một “ban nhạc một người” rất hiệu quả. Chúng ta có thể chơi trên piano từ những giai điệu đơn giản đến phức tạp nhất và cả đàn phần đệm cùng một lúc.

    4. Âm vực của đàn rộng nhất. Không có nhạc cụ nào cho phép diễn tả nhiều nốt trên một âm vực trải rộng như piano. Đây là nhạc cụ duy nhất có tới 88 phím riêng biệt và lại có thể chơi cùng lúc những nốt ở âm vực cao nhất với âm vực thấp nhất.

    5. Có khả năng rất phong phú trong việc diễn đạt các biến cường. Chúng ta nghe được trên piano từ tiếng “leng keng” êm ái nhất ở âm vực cao nhất của đàn đến những âm thanh ở âm vực thấp trầm hùng, mạnh mẽ như bão tố. Đó là lý do tại sao piano luôn được chọn là cây đàn đệm cho những nhạc cụ độc tấu khác nhưng đồng thời cũng có thể là cây đàn độc tấu đối thoại với cả dàn nhạc giao hưởng.
    VAE TeamRemove backlink, liên hệ [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]

  18. 4 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới tieutuit cho bài viết hữu ích này:


Trang 1 của 3 123 CuốiCuối

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •