Forum Home Your IP: 54.81.254.212

Trang 4 của 4 Đầu tiênĐầu tiên 1234
Kết quả 31 đến 35 của 35

Chủ đề: Tìm hiểu về dân ca Quan Họ

  1. #1
    Truly Very Noob

    TheThuongNT's Avatar
    Ngày tham gia
    13-03-2010
    Đang ở
    Hải Phòng citi
    Bài viết
    3,790
    Thanks
    34,689
    Được THANKS 29,027 lần

    Tìm hiểu về dân ca Quan Họ

    Lời giới thiệu

    Trong dòng văn hoá và nghệ thuật âm nhạc dân gian chảy từ ngàn xưa, giữa sự đa dạng và đa diện của các dòng dân ca: chèo của Thái Bình, Nam Ðịnh, chèo tàu của Hà Tây, hát dặm Nghệ An, Hà Tĩnh, ca trù ca Huế, dân ca Nam bộ...vẫn lấp lánh một dòng dân ca riêng biệt, đặc sắc và độc đáo, tựa như:


    "Cây trúc xinh tang tình là cây trúc mọc...
    Chị Hai xinh chị Hai đứng một mình vẫn xinh"

    Ðó là dân ca Quan họ vùng Kinh Bắc - Bắc Ninh.


    Quan họ vừa như một làn điệu hội tụ "khí chất" của rất nhiều làn điệu dân ca. Cái trong sáng, rộn ràng của chèo. Cái thổn thức, mặn mà của hát dặm. Cái khoan nhịp, sâu lắng của ca trù. Cái khoẻ khoắn, hồn nhiên của dân ca Nam bộ. Nhưng trên hết, Quan họ mang "khí chất" của chính Quan họ, là hồn của xứ sở Quan họ, là "đặc sản" tinh thần của Kinh Bắc-Bắc Ninh.


    Nằm kề cận với thủ đô, có diện tích nhỏ nhất nước, với sáu huyện, thị, nhưng khát vọng trí tuệ, khát vọng sống, khát vọng khẳng định mình của Kinh Bắc chẳng nhỏ tý nào. Sách cổ của người xưa từng ngưỡng mộ: "Kinh Bắc nổi tiếng văn nhã". Ðất Kinh Bắc là nơi kết tụ của tài hoa các làng nghề: làng tranh Ðông Hồ, Làng giấy Ðống Cao, làng chạm khắc Phù Khê, làng đồng Ðại Bái, làng buôn Phù Lưu...Là đất của hàng nghìn di tích lịch sử, danh thắng của các đình, đền, chùa nổi tiếng. Người Kinh Bắc thông minh, tinh tế. ở bất cứ thời đại lịch sử nào Kinh Bắc cũng hiến cho đời không ít những danh nhân, nhân tài, kẻ sĩ, các bậc hiền tài...Các cộng đồng làng Kinh Bắc từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, gắn kết với nhau trong tình làng nghĩa xóm, trong lao động cần cù, trong khát vọng yêu thương, vượt lên thiên tai, địch hoạ, vượt lên gian khó, "thương người như thể thương thân", "tứ hải giao tình, bốn biển một nhà" như lời dân ca Quan họ. Chính cái khát vọng sống của người Kinh Bắc, đất Kinh Bắc đã hoá thân thành những làn điệu Quan họ kỳ diệu "lời thì giao duyên, tình thì anh em ", vừa thực, vừa mơ, vừa giải bày, vừa khúc chiết ,vừa tình tự ,vừa sâu sắc ...Các làng Quan họ cũng được hình thành, quần tụ thành vùng Quan họ, hầu hết nằm ở Bắc Ninh, mà theo các nghệ nhân, từng có tới 49 làng quan họ. Và như sông Cầu không bao giờ cạn, mạch sống của khúc nhạc, lời ca Quan họ cũng không khi nào nhạt phai dù đã trải qua bao đời người và bao nhiêu biến động thời thế. Ðến bây giờ Hội làng Quan họ vẫn là nguồn cảm hứng mùa xuân bất tận của xứ Kinh Bắc. Các Hội làng gắn bó đặc biệt với hát Quan họ, không thể nào có Hội làng trên mảnh đất Bắc Ninh mà thiếu vắng sắc màu và âm thanh Quan họ. Những hội hè này trải dài từ mùng 4 Tết âm lịch đến 28-3 âm lịch. Ðặc sắc nhất vẫn là Hội Lim ở huyện Tiên Sơn. Vào những ngày hội, nam thanh nữ tú các nơi đổ về, trẩy hội tưng bừng, để được nghe các liền anh, liền chị xiêm y mớ bảy mớ ba, hát đối đáp, hát canh, hát hội, hát mừng...


    Dân ca Quan họ quả là một tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, nó cần được tiếp tục nuôi dưỡng, trân trọng gìn giữ và lưu truyền lại cho các thế hệ mai sau, ở trong nước và cả cho cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Trong suy nghĩ đó, CLB Văn hoá xin trân trọng giới thiệu những nét đặc sắc nhất của dân ca Quan họ. Từ khái quát về quê hương Quan họ với những truyền thống xứ Kinh Bắc, về các làng Quan họ, các lề lối ca hát và phong tục giao du. Ðến lời ca Quan họ với sự phân tích về nội dung lời ca và nghệ thuật thơ ca. Âm nhạc trong dân ca Quan họ cũng được điểm với những thể dạng, hình thức cấu trúc điển hình, mối quan hệ giữa âm nhạc với hình thức lời ca...Và không thể thiếu được là một số làn điệu Quan họ, vừa có kinh điển, vừa có cả cải biên, được trình bày bởi tiếng hát dung dị, trữ tình của chính những liền anh, liền chị trên quê hương Quan họ Kinh Bắc.
    CLB Văn hóa

    Chuyên mục "Tìm hiểu dân ca Quan họ" được thực hiện dựa theo cuốn sách "Tìm hiểu dân ca Quan họ" của NXB Văn hoá Dân Tộc và sự giúp đỡ của Nghệ sĩ Xuân Mùi - Ðoàn dân ca Quan họ Bắc Ninh.
    Nguyện đi với anh suốt con đường dài, dù cho khó khăn vẫn chờ ta phía trước

  2. 11 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới TheThuongNT cho bài viết hữu ích này:


  3. #31
    THCS
    Ngày tham gia
    22-02-2011
    Đang ở
    Bac Giang
    Bài viết
    3
    Thanks
    3
    Được THANKS 8 lần

    Quan họ Bắc Ninh với lễ hội truyền thống

    Văn hóa Quan họ với lễ hội truyền thống


    Đã từ lâu, trong dân gian nước ta truyền nhau về những lễ hội Quan họ nổi tiếng xứ Kinh Bắc như: Hội Lim, hội Ó, hội Diềm, hội Nhồi... Quả đúng như vậy, những lễ hội này là của những làng Quan họ gốc có qui mô lớn và đặc sắc bởi văn hoá Quan họ gắn chặt cả phần lễ và phần hội. Tục lệ của các làng Quan họ trên qui định chặt chẽ: Quan họ phần lễ là để thờ Thần, thờ Phật; Quan họ phần hội là để các bọn Quan họ nam, nữ của các làng đến tham dự hội hát đối đáp giao duyên, vui chơi giải trí.
    Quan họ thờ Thần: Không chỉ những làng Quan họ gốc nổi tiếng nêu trên, mà hầu hết các làng Quan họ gốc khác đều có tục lệ hát Quan họ thờ Thần (hoặc thờ Phật) phần lễ và hát Quan họ giao lưu phần hội. Theo tục lệ của các làng Quan họ gốc, hát thờ Thần được qui định chặt chẽ như: Chỉ có bọn Quan họ nam hoặc nữ của làng được hát. Trong hát thờ chỉ được hát những những giọng lề lối (giọng cổ) như: Hừ la, La rằng, Tình tang, Cây gạo... có nội dung ca ngợi công đức của Thần. Hệ thống giọng cổ này có vị trí là khởi nguồn của các làn điệu sau này. Tuyệt đối không được hát giọng vặt có nội dung nam nữ yêu đương. Trải qua những thăng trầm của lịch sử, nhiều làng Quan họ không còn giữ nguyên được những qui định trên. Ví như các làng Bồ Sơn, Y Na, Yên Mẫn... còn mời các bọn Quan họ nam, nữ của các làng khác đến dự hội hát thờ Thần.
    Quan họ phần hội: Quan họ phần hội là để các bọn Quan họ nam và nữ của các làng hát đối đáp giao duyên nhằm tạo không khí vui vẻ, giải trí với nhau. Hội của các làng Quan họ hấp dẫn và quyến rũ nhất chính là phần các bọn Quan họ hát đối đáp giao duyên với nhau. Bởi các liền anh, liền chị bằng những làn điệu, những lời ca ngọt ngào đầy tình cảm thể hiện những tâm trạng yêu đương, nhớ nhung, đằm thắm, da diết, quyến luyến của những lứa đôi. Sách “Kinh Bắc phong thổ” ghi lại tục hát Quan họ ở làng Xuân Ổ (Ó) rằng con gái làng này hát rất hay và coi việc đón bạn trai về nhà trong ngày hội là điều may mắn. Hẳn vì thế, ở những hội Quan họ như Diềm, hội Lim, hội Ó, hội Nhồi... người ta thấy từng tốp các bọn Quan họ nam và nữ say sưa hát ở sân đình, sân đền, sân chùa, trên đồi núi, quanh đình chùa... có khi tràn cả xuống bờ ruộng, trên thuyền giữa sông nước.
    Hát Quan họ giao lưu bao giờ cũng hát đôi và hát đối giữa các bọn Quan họ nam và nữ. Có nghĩa là khi một đôi nam (hay nữ) của bọn Quan họ bên này cất tiếng hát thì bọn Quan họ bên kia cũng chuẩn bị sẵn một đôi để hát đối lại . Trong cặp hát, người ca chính bắt giọng trước, người ca luồn bắt giọng sau. Bên kia hát giọng nào thì bên này phải hát đối bằng giọng ấy. Cũng vì hát đối mà dân ca Quan họ đã có sự phát triển vượt bậc cả về làn điệu và lời ca. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã sưu tầm được gần 400 làn điệu và gần một nghìn lời ca.
    Sau khi các bọn Quan họ tham gia hát ở hội (còn gọi là ca sự tại đình), họ kéo nhau về nhà ông (bà) Trùm có nhà chứa của mình hỏi han, động viên nhau và ở đây diễn ra hát canh Quan họ (còn gọi là ca sự tại gia). Vào canh hát bao giờ người ta cũng hát đôi và hát đối theo lề lối. Hát theo lề lối có nghĩa là các đôi Quan họ bắt đầu hát bằng hệ thống giọng cổ như: Hừ la, La rằng, La hời, Tình tang, Cây gạo, Cái ả, Lên núi, Xuống sông... Hát chừng 10 bài giọng lề lối, chuyển sang giọng sổng vài câu, tiếp đến là giọng vặt và cuối cùng là giọng giã bạn. Giữa canh hát bao giờ chủ nhà cũng mời Quan họ bạn xơi cơm, uống nước Quan họ (cỗ mặn, chè nước, bánh ngọt...). Tất cả các cử chỉ mời trầu, mời nước, mời ăn... đến ca hát đều lịch thiệp, khéo léo, tế nhị với những lời ca tiếng hát ngọt ngào, đằm thắm. Khi Quan họ bạn xin phép ra về thì Quan họ chủ sẽ tiễn ra tận cổng làng. ở đây họ còn dùng dằng lưu luyến nhau bằng một số câu giã bạn.

  4. 4 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới nxcuongc2ht cho bài viết hữu ích này:


  5. #32
    THCS
    Ngày tham gia
    22-02-2011
    Đang ở
    Bac Giang
    Bài viết
    3
    Thanks
    3
    Được THANKS 8 lần

    Bản chất nội tai của Quan họ

    Bản chất nội tại của Quan họ

    Không nên gọi “QH cổ” bởi sẽ không giải thích được “cổ” là gì? Bài bản ra đời vào thời gian nào được xếp là cổ? Có nhiều làn điệu QH ra đời cách ngày nay vài trăm năm, như 5 điệu lề lối cơ bản: La rằng, Tình tang, Bạn kim lan, Cái ả, Cây gạo, lại có nhiều làn điệu được sáng tác vào những năm 30-40 của thế kỷ trước như: Thú giải phiền, Con chim thước, Còn người còn nước còn non, Gọi đò, Lỡ duyên, Chức Nữ-Ngưu Lang, Bốn mùa, Chè mạn hảo, Đàn ca, Cây kiêu bổng, Chia rẽ đôi nơi... Có ý kiến cho rằng phải bảo tồn QH gốc (ý nói bài bản gốc). QH thuộc loại hình văn nghệ dân gian với tính tuyền miệng và tính hòa nhập rất cao. Vì vậy việc xác định những bài QH gốc không khác gì “mò kim đáy bể”. Từ những căn cứ trên nên dùng cụm từ “QH truyền thống” thì chính xác hơn. QH truyền thống tức là các mặt hoạt động văn hóa QH, trong đó có bài bản QH do ông cha để lại, truyền lại.

    Sự khác nhau giữa “QH mới” và “QH truyền thống” được biểu hiện ở những mặt: Khác nhau về khung cảnh. QH truyền thống hoạt động trong các làng quê QH, chủ yếu tập trung vào dịp lễ hội xuân thu nhị kỳ (hoạt động trong tổng thể gồm nhiều mặt), còn QH mới chủ yếu hoạt động trên sân khấu và chỉ riêng về tiếng hát. Các băng đĩa về tiếng hát QH cũng chung đặc điểm với QH trên sân khấu. Trong hát QH ngày xưa không có khán giả, người trình diễn đồng thời là người người thưởng thức, đặc biệt là thưởng thức “cái tình” của bạn hát. QH mới luôn có khán thính giả, người hát trao đổi tình cảm với khán thính giả không còn là tình cảm giữa bạn hát với nhau. QH truyền thống chỉ có ở các làng QH, QH mới được trình diễn trong cả tỉnh, cả nước và đến với tất cả các châu lục trên thế giới. QH truyền thống chủ yếu sinh hoạt trong ngày hội, QH mới được trình diễn vào bất kỳ ngày nào trong năm.

    Về hình thức, QH truyền thống không có nhạc đệm và chủ yếu hát đôi, đôi nam ca đối đáp với đôi nữ (hát hội, hát canh) và hát cả bọn, cả bọn nam ca đối đáp cùng cả bọn nữ (Hát chúc, mừng, hát thờ). QH mới hình thức biểu diễn phong phú hơn, bao gồm cả hát đơn, hát đôi, hát tốp, hát có múa phụ họa...

    Sự khác nhau về mặt bài bản biểu hiện ở điểm một bên dùng gần như nguyên các bài bản truyền thống, còn một bên đã có sự cải biên các bài bản truyền thống. Việc cải biên diễn ra ở những mức độ khác nhau: Cải biên không có ý thức: Khi đệm nhạc để hát, ít nhiều là một sự cải biên. Đại đa số các bài bản được gọi là QH mới là ở mức độ cải biên này. Cải biên có ý thức là những bài bản đã cải biên cả nhạc và lời của bài bản QH truyền thống. Loại cải biên này không nhiều, ví dụ bài “Người ở đừng về” là cải biên từ làn điệu “Chuông vàng gác cửa tam quan” (Xuân Tứ cải biên).

    QH lời mới được nhiều người yêu thích tới mức tưởng nhầm là QH truyền thống như bài “Sông Cầu nước chảy lơ thơ” do Mai Khanh soạn lời mới từ làn điệu truyền thống “Nhất quế nhị lan”.

    Khác nhau về mặt mục đích hoạt động là khác nhau cơ bản nhất giữa QH truyền thống và QH mới, cũng là khẳng định quy luật phát triển tất yếu của QH. Mục đích chính của QH trong các làng xã QH hiện nay là để bảo tồn QH. Mục đích này đã và đang từng bước hoàn thành. Tuy vẫn còn nhiều điều phải điều chỉnh tiếp, nhưng không ai có hiểu biết thực tế có thể nói rằng “không gian và những sinh hoạt theo lề lối cổ của QH không còn nữa”. QH mới có nhiệm vụ tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá QH trên diện rộng, giúp đông đảo nhân dân trong cả nước và quốc tế biết đến QH. Về cơ bản vẫn là giai điệu âm nhạc QH truyền thống, có cải biên đôi chút, có thay đổi khung cảnh và hình thức biểu diễn mà được quảng bá trên diện rộng là việc rất nên làm. Đó cũng là một hoạt động bảo tồn đúng với bản chất nội tại của QH.

    Theo báo Bắc Ninh. Ngô Xuân Cường * Sưu tầm*

  6. 4 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới nxcuongc2ht cho bài viết hữu ích này:


  7. #33
    Tiểu học
    Ngày tham gia
    08-06-2013
    Đang ở
    Bắc Ninh
    Bài viết
    2
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    như đã biết thì quan họ có tục kết chạ giữa. khi đã kết chạ thì không chỉ các liền anh liền chị mà còn cả chính quyền các làng kết chạ cũng kết nghĩa với nhau. khi đã kết chạ thì đã trở thành anh em một nhà. mà anh em trong nhà thì không thể lấy nhau được. nếu cặp đôi nào cố tình thì sẽ bị một lời nguyền nào đó.
    tuy nhiên, quan họ giữa làng này với làng kia vẫn được lấy nhau nếu chỉ kết bạn hoặc không có quan hệ gì. kết bạn và kết chạ là hoàn toàn khác nhau nhé bạn

  8. Thành viên sau đã Bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới nhonguoiqhbn cho bài viết hữu ích này:


  9. #34
    THCS
    Ngày tham gia
    01-10-2013
    Đang ở
    fvfvgfd
    Bài viết
    4
    Thanks
    0
    Được THANKS 4 lần
    mình chưa hiểu lắm sự khác nhau giữa kết bạn và kết chạ

  10. #35
    THCS tido123's Avatar
    Ngày tham gia
    24-09-2014
    Đang ở
    Hồ Chí Minh
    Bài viết
    4
    Thanks
    1
    Thanked 2 Times in 1 Post
    Quan họ một loại hình nghệ thuật khá hay .

Trang 4 của 4 Đầu tiênĐầu tiên 1234

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •