Forum Home Your IP: 54.81.244.248

Trang 2 của 4 Đầu tiênĐầu tiên 1234 CuốiCuối
Kết quả 11 đến 20 của 35

Chủ đề: Tìm hiểu về dân ca Quan Họ

  1. #1
    Truly Very Noob

    TheThuongNT's Avatar
    Ngày tham gia
    13-03-2010
    Đang ở
    Hải Phòng citi
    Bài viết
    3,790
    Thanks
    34,689
    Được THANKS 29,027 lần

    Tìm hiểu về dân ca Quan Họ

    Lời giới thiệu

    Trong dòng văn hoá và nghệ thuật âm nhạc dân gian chảy từ ngàn xưa, giữa sự đa dạng và đa diện của các dòng dân ca: chèo của Thái Bình, Nam Ðịnh, chèo tàu của Hà Tây, hát dặm Nghệ An, Hà Tĩnh, ca trù ca Huế, dân ca Nam bộ...vẫn lấp lánh một dòng dân ca riêng biệt, đặc sắc và độc đáo, tựa như:


    "Cây trúc xinh tang tình là cây trúc mọc...
    Chị Hai xinh chị Hai đứng một mình vẫn xinh"

    Ðó là dân ca Quan họ vùng Kinh Bắc - Bắc Ninh.


    Quan họ vừa như một làn điệu hội tụ "khí chất" của rất nhiều làn điệu dân ca. Cái trong sáng, rộn ràng của chèo. Cái thổn thức, mặn mà của hát dặm. Cái khoan nhịp, sâu lắng của ca trù. Cái khoẻ khoắn, hồn nhiên của dân ca Nam bộ. Nhưng trên hết, Quan họ mang "khí chất" của chính Quan họ, là hồn của xứ sở Quan họ, là "đặc sản" tinh thần của Kinh Bắc-Bắc Ninh.


    Nằm kề cận với thủ đô, có diện tích nhỏ nhất nước, với sáu huyện, thị, nhưng khát vọng trí tuệ, khát vọng sống, khát vọng khẳng định mình của Kinh Bắc chẳng nhỏ tý nào. Sách cổ của người xưa từng ngưỡng mộ: "Kinh Bắc nổi tiếng văn nhã". Ðất Kinh Bắc là nơi kết tụ của tài hoa các làng nghề: làng tranh Ðông Hồ, Làng giấy Ðống Cao, làng chạm khắc Phù Khê, làng đồng Ðại Bái, làng buôn Phù Lưu...Là đất của hàng nghìn di tích lịch sử, danh thắng của các đình, đền, chùa nổi tiếng. Người Kinh Bắc thông minh, tinh tế. ở bất cứ thời đại lịch sử nào Kinh Bắc cũng hiến cho đời không ít những danh nhân, nhân tài, kẻ sĩ, các bậc hiền tài...Các cộng đồng làng Kinh Bắc từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, gắn kết với nhau trong tình làng nghĩa xóm, trong lao động cần cù, trong khát vọng yêu thương, vượt lên thiên tai, địch hoạ, vượt lên gian khó, "thương người như thể thương thân", "tứ hải giao tình, bốn biển một nhà" như lời dân ca Quan họ. Chính cái khát vọng sống của người Kinh Bắc, đất Kinh Bắc đã hoá thân thành những làn điệu Quan họ kỳ diệu "lời thì giao duyên, tình thì anh em ", vừa thực, vừa mơ, vừa giải bày, vừa khúc chiết ,vừa tình tự ,vừa sâu sắc ...Các làng Quan họ cũng được hình thành, quần tụ thành vùng Quan họ, hầu hết nằm ở Bắc Ninh, mà theo các nghệ nhân, từng có tới 49 làng quan họ. Và như sông Cầu không bao giờ cạn, mạch sống của khúc nhạc, lời ca Quan họ cũng không khi nào nhạt phai dù đã trải qua bao đời người và bao nhiêu biến động thời thế. Ðến bây giờ Hội làng Quan họ vẫn là nguồn cảm hứng mùa xuân bất tận của xứ Kinh Bắc. Các Hội làng gắn bó đặc biệt với hát Quan họ, không thể nào có Hội làng trên mảnh đất Bắc Ninh mà thiếu vắng sắc màu và âm thanh Quan họ. Những hội hè này trải dài từ mùng 4 Tết âm lịch đến 28-3 âm lịch. Ðặc sắc nhất vẫn là Hội Lim ở huyện Tiên Sơn. Vào những ngày hội, nam thanh nữ tú các nơi đổ về, trẩy hội tưng bừng, để được nghe các liền anh, liền chị xiêm y mớ bảy mớ ba, hát đối đáp, hát canh, hát hội, hát mừng...


    Dân ca Quan họ quả là một tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, nó cần được tiếp tục nuôi dưỡng, trân trọng gìn giữ và lưu truyền lại cho các thế hệ mai sau, ở trong nước và cả cho cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Trong suy nghĩ đó, CLB Văn hoá xin trân trọng giới thiệu những nét đặc sắc nhất của dân ca Quan họ. Từ khái quát về quê hương Quan họ với những truyền thống xứ Kinh Bắc, về các làng Quan họ, các lề lối ca hát và phong tục giao du. Ðến lời ca Quan họ với sự phân tích về nội dung lời ca và nghệ thuật thơ ca. Âm nhạc trong dân ca Quan họ cũng được điểm với những thể dạng, hình thức cấu trúc điển hình, mối quan hệ giữa âm nhạc với hình thức lời ca...Và không thể thiếu được là một số làn điệu Quan họ, vừa có kinh điển, vừa có cả cải biên, được trình bày bởi tiếng hát dung dị, trữ tình của chính những liền anh, liền chị trên quê hương Quan họ Kinh Bắc.
    CLB Văn hóa

    Chuyên mục "Tìm hiểu dân ca Quan họ" được thực hiện dựa theo cuốn sách "Tìm hiểu dân ca Quan họ" của NXB Văn hoá Dân Tộc và sự giúp đỡ của Nghệ sĩ Xuân Mùi - Ðoàn dân ca Quan họ Bắc Ninh.
    Nguyện đi với anh suốt con đường dài, dù cho khó khăn vẫn chờ ta phía trước

  2. 11 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới TheThuongNT cho bài viết hữu ích này:


  3. #11
    Truly Very Noob

    TheThuongNT's Avatar
    Ngày tham gia
    13-03-2010
    Đang ở
    Hải Phòng citi
    Bài viết
    3,790
    Thanks
    34,689
    Được THANKS 29,027 lần
    VI - Tìm hiểu lời ca Quan họ
    ***
    A - Giá trị nội dung tư tuởng của sinh hoạt văn hóa Quan họ Khi quan niệm Quan họ là một hình thái sinh hoạt văn hóa dân gian, một tổng thể do nhiều yếu tố văn hóa nghệ thuật hợp thành, trong đó, nổi bật là giá trị của nghệ thuật ca hát Quan họ, thì giá trị nội dung tư tưởng của Quan họ bao hàm nhiều ý nghĩa phong phú, sâu, rộng hơn.


    Quan họ là một tổng thể hợp thành từ nhiều yếu tố văn hóa hóa nghệ thuật dân gian xứ Bắc (tên gọi theo sự phân vùng văn hóa dân gian, chỉ vùng đất phía Bắc Thăng Long, sông Hồng, chủ yếu là đất Bắc Ninh ngày nay), trong một quá trình lịch sử lâu dài, có nhiều tầng, nhiều lớp trong một chỉnh thể văn hóa; gắn bó với văn hóa, văn minh làng xã, thu hút và biểu hiện những ước mơ tập hợp và hành động chung cho những nguyện vọng, những khao khát của con người xứ Bắc nhiều đời, đối với quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc của con người trên bình diện văn hóa - xã hội.


    Theo chiều dài lịch sử, quan họ đã sáng tạo, dung nạp, chuyển hóa, sinh thành, đào thải... để thích nghi, đáp ứng những nhu cầu về văn hóa, nghệ thuật, những nguyện vọng về cuộc sống của cộng đồng người sáng tạo, nuôi dưỡng, giữ gìn, phát triển Quan họ, trong mọi chặng đường lịch sử, nên giá trị nội dung bản chất của quan họ giàu có, phức tạp, đa diện. Ðến với ngày hội có hàng trăm nhóm quan họ nam nữ tươi vui, mời chào, ca hát hoặc đến với một canh hát do quan họ gái, trai mời nhau đến nhà ca một canh "mừng xuân, mừng hội, vui bàu, vui bạn..." ta có thể thấy ở đây sự phô diễn dồn nén, tích tụ, sinh động những giá trị của văn hóa quan họ: người đẹp, trang phục đẹp, cử chỉ đẹp, ngôn ngữ đẹp, tiếng nói, tiếng cười, miếng trầu, chén nước... đều có chuẩn mực văn hóa, thắm đượm tình người, nghĩa nặng, ân sâu. Tiếng hát quyện hòa thơ nhạc, bổng trầm, non nỉ, thiết tha, âm vang, đối đáp, bay lượn, quấn quýt trong một tổng thể vẻ đẹp ấy từ chập tối đến tàn canh đã đưa mọi người vào một thế giới của tình bạn, tình yêu, tình người "sum họp trúc mai", "bốn bể giao tình", thế giới lung linh, say đắm của sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật, thật sự mang lại những khoảnh khắc hạnh phúc cho con người. Cho nên, đến với Quan họ là đến với sự liên kết con người bằng sợi dây ân nghĩa, yêu thương, của tình bạn trọn đời, tình bạn truyền đời, tình yêu nam nữ mang màu sắc lý tưởng kiểu Quan họ, như phong tục, lề lối Quan họ đã ước định. Con người có thêm sức mạnh, niềm tin yêu để chống lại sự cô đơn, sự bất lực trước một xã hội còn nhiều bất công, áp bức đè nặng nhiều thế kỷ.


    Sự phân biệt đẳng cấp, phân biệt thân phận, nhất là trong xã hội xưa, là nỗi đau tinh thần của nhiều người. Ðến với Quan họ là đến với mối quan hệ tôn lẫn kính chung, sự bình đẳng giữa con người với con người: giữa nam và nữ, giữa các thân phận rất khác nhau trong đời thường. Không ở đâu trong xã hội cũ con người lại được sống trong mối quan hệ "người với người là bạn" như trong sinh hoạt văn hóa quan họ.


    Trước vũ trụ bao la, huyền bí, đi trong cuộc đời xưa nhiều rủi hơn may, người Quan họ đã lấy tiếng hát Quan họ làm nhịp cầu đến với thế giới thần linh để cầu mưa, cầu phúc, cầu duyên, cầu lộc, giải hạn... hy vọng vượt qua được mọi thác ghềnh, hy vọng tấm lòng thành kính và tiếng hát diệu kỳ kia sẽ xua đi mọi tai ương, bất hạnh, mang lại niềm tin cho cuộc sống. Tiếng hát Quan họ đã trở thành người bạn đồng hành mang đến sự che chở, an ủi vĩnh hằng trước mọi đe dọa của thế giới siêu nhiên.


    Ðến với sinh hoạt văn hóa Quan họ, bằng những phong tục, lề lối ước định của mình người Quan họ đã hình thành những quan niệm đạo đức, những hành vi và tình cảm đạo đức bắt nguồn từ những lẽ phải có cội rễ sâu xa trong truyền thống văn hóa dân gian đối với quan hệ bạn bè, quan hệ yêu đương nam nữ, quan hệ vợ chồng, tình làng, nghĩa xóm, quan hệ lớp người trước với lớp người sau, lớp già lớp trẻ... dựa trên nghĩa nặng, ân sâu, tôn lẫn kính chung, trước sau đùm bọc, thủy chung v.v...


    Ðến với sinh hoạt văn hóa quan họ cũng là đến với quyền được sáng tạo, diễn xướng, thưởng thức những giá trị văn hóa, nghệ thuật của chính mình, của những tri âm, tri kỷ, của cộng đồng người gắn bó, hòa hợp với mình, trong sự tự do và chân thật. Bằng sáng tạo văn hóa, nghệ thuật, người quan họ có thể nói với chính mình, với bàu bạn, với con người về những ước mơ, khát vọng, buồn, thương, yêu, ghét..., về những điều cuộc đời nên có và phải có... vừa để tự giải phóng tinh thần cho mỗi cá thể vừa để gắn bó có ích và tốt đẹp đối với cuộc đời.


    Tóm lại, với sinh hoạt văn hóa quan họ, trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật nhiều đời, người xứ Bắc đã suy ngẫm, sáng tạo và thực hiện không mệt mỏi, công phu, đầy tài năng những bước tiến hướng tới một cuộc sống làm cho con người ngày một được tôn trọng hơn, ngày một hạnh phúc hơn, được cống hiến và hưởng thụ nhiều hơn trong đời sống tinh thần thiêng liêng của con người.
    Nguyện đi với anh suốt con đường dài, dù cho khó khăn vẫn chờ ta phía trước

  4. 5 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới TheThuongNT cho bài viết hữu ích này:


  5. #12
    Truly Very Noob

    TheThuongNT's Avatar
    Ngày tham gia
    13-03-2010
    Đang ở
    Hải Phòng citi
    Bài viết
    3,790
    Thanks
    34,689
    Được THANKS 29,027 lần
    B - Giá trị tư tưởng nghệ thuật của lời ca quan họ

    1 - Ðôi nét về văn bản lời ca Cho đến nay, chưa có con số chính thức cuối cùng về số bản lời ca quan họ. Theo con số đi sưu tầm, ghi chép được của Ðoàn dân ca quan họ thì có gần 250 bài bản lời ca. Có tài liệu nói có 500 bản lời ca.
    Nếu tính theo số bài bản về bài hát (ca khúc và lời) thì có trên dưới 200 bản, và nếu mỗi bài ca đều có 2 lời thì ta có trên dưới 400 bài lời ca. Lời ca cho một bài nào đấy, nhìn chung thống nhất trong cả vùng, nhưng cũng có những dị bản, và nhất là khác đi một số từ ngữ nào đấy. Trong trường hợp có những chữ khác nhau trong lời ca, cũng như khác nhau về giai điệu bài ca (chi tiết nào đấy) cũng thường gây nên tranh cãi nhiều khi gay gắt trong giới quan họ mà không phải bao giờ cũng tiến tới thống nhất được. Nhưng, như một thói quen trong nếp nghĩ và nhiều khi kiên định giữ nếp nghĩ này: "ông bà, bố mẹ, anh chị làng tôi ca thế, chúng tôi cũng ca thế".
    Ví dụ có làng hát:
    Rủ nhau đi gánh nước thuyền
    Ðứt quang vỡ sải nước liền xuống sông

    Nhưng làng khác nhất định hát :
    Rủ nhau đi gánh nước thuyền
    Ðứt quang vỡ sải nước liền xuôi đông

    Có một ví dụ nữa, các cụ hát:
    Ðêm qua gió mát giăng thanh
    Bỗng đâu thấy khách bên thành sang chơi

    Câu ca này gần như câu thơ trong Truyện Kiều :
    Lần thâu gió mát trăng thanh
    Bỗng đâu thấy khách biên đình sang chơi

    Thấy sự khác nhau ấy đừng vội níu kéo lời hát kia trở về nguyên văn lời thơ Truyện Kiều, vì, sự sửa chữa một số chữ là có dụng ý hợp cảnh, hợp tình, hợp người... mà nhiều khi ta chưa hiểu được.
    Quan họ có hệ thống lời ca riêng, đạt tới một trình độ riêng, đáp ứng những nhu cầu văn hóa, nghệ thuật có nhiều nét riêng của sinh hoạt văn hóa quan họ. Nhưng cũng như âm nhạc quan họ, lời ca quan họ đã du nhập, thu hút tinh hoa của kho tàng thơ ca dân gian, dân tộc như: ca dao,tục ngữ, hệ thống truyện thơ nôm, lời ca của hát chèo, tuồng, ả đào, ví, trống quân, vv... Chính vì vậy, khi tìm hiều lời ca quan họ cũng cần có những tri thức về thơ ca dân gian, dân tộc để nhiều khi phải so sánh, đối chiếu, liên tưởng... mới hiểu đúng hoặc hiểu sâu một từ ngữ, một hình ảnh, hình tượng... một lời ca.
    Khi chúng ta có một hệ thống lời ca, am hiểu đặc điểm ra đời và lưu hành hệ thống lời ca đó, có tri thức về thơ ca dân gian, dân tộc, hiểu và vận dụng được các phương pháp tìm hiểu, thưởng thức thơ ca; đặt lời ca gắn liền với âm nhạc và hoạt động ca hát quan họ... chúng ta có thể hiểu được những giá trị nhiều mặt của hệ thống lời ca quan họ.
    Nguyện đi với anh suốt con đường dài, dù cho khó khăn vẫn chờ ta phía trước

  6. 5 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới TheThuongNT cho bài viết hữu ích này:


  7. #13
    Truly Very Noob

    TheThuongNT's Avatar
    Ngày tham gia
    13-03-2010
    Đang ở
    Hải Phòng citi
    Bài viết
    3,790
    Thanks
    34,689
    Được THANKS 29,027 lần
    C - Giá trị tư tưởng của lời ca Quan họ
    Nội dung tổng quát của hệ thống lời ca quan họ là sự mơ ước, khát khao về hạnh phúc của cuộc sống; trong đó, người với người sống trong thương yêu, người cùng thiên nhiên sống trong sự hòa hợp gắn bó, là hạt nhân cơ bản của hạnh phúc.
    Sự mơ ước, khát khao đó được biểu hiện trong những lời ca khi chúc mừng, khi cầu xin... trong hát nghi lễ (hát lễ thờ, hát mừng chạ, hát cầu đảo...), khi thiết tha, đằm thắm, say mê hát về tình yêu nam nữ, về tình bạn trọn đời, tình bạn truyền đời... của Quan họ.
    a - Khao khát thương yêu và được thương yêu
    Trong lời ca quan họ cần lưu ý: người ta ít khi dùng chữ yêu mà hầu hết dùng chữ thương;[Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]... mà hay dùng chữ người, ngay cả trong những bài bộc lộ sâu sắc những tình cảm của tình yêu nam nữ.
    Về chữ thương và chữ yêu, trong khẩu ngữ dân gian xưa, cũng ít khi dùng chữ yêu nói về tình yêu nam nữ. Cho đến đầu thế kỷ XX, khi đi đến nhà gái dạm hỏi, bà mối hoặc ông mối cũng thường nói: "Hai cháu đã thương nhau...", hoặc "hai cụ đã thương đến các cháu...", hoặc "đã thương thì thương cho chót...". Cha mẹ căn dặn những vợ chồng mới cưới cũng thường nói: "các con đã thương nhau thì phải giữ cho đến đầu bạc răng long, mãn chiều, xế bóng...". ít khi người ta dùng chữ yêu để chỉ tình yêu nam nữ. Mấy chục năm gần đây, chữ yêu thay thế dần chữ thương và gần như chữ chính khi nói đến tình yêu nam nữ, gần như chuyển hẳn để biểu hiện một khía cạnh nào đó của tình yêu nam nữ mà thôi.
    Về chữ Người trong lời ca Quan họ: [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]"[Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]", [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]"[Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]" "... Người ra đứng mũi, tôi ra chịu sào..." "kẻ bắc, người nam..." khiến ta liên tưởng đến chữ Người trong các câu thơ Truyện Kiều:
    ...Người đâu gặp gỡ làm chi...
    ...Người mà đến thế thì thôi...

    Chữ "người" chứa đọng những tình cảm đậm đà, sâu sắc, tinh tế, trong mối quan hệ giữa người với người của một thời, không hoàn toàn giống nghĩa bao hàm của chữ người dùng trong ngôn ngữ thơ ca hiện nay.
    Khi đã được nghe trọn vẹn nhiều canh hát Quan họ với hàng trăm bài ca nối tiếp nhau từ đầu đến cuối, đối đáp nam nữ, tiếng bổng, tiếng trầm, thanh trong, thanh đục... rồi suy ngẫm trước hệ thống lời ca quan họ, nhiều người cảm thấy ngay từ canh hát đầu tiên, sau đó ngày càng lắng đọng, ghi sâu trong tiềm thức, trong xúc cảm của ta về sự khao khát yêu thương và được yêu thương giữa con người với con người.
    Mở đầu canh hát người quan họ đã biểu lộ ngay nỗi vui mừng vừa trân trọng, vừa thân thiết trước cảnh "sum họp trúc mai", "tứ hải giao tình", "bốn bể giao hoà...", với ý nghĩa "tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm", "càng sâu nghĩa bể càng dài tình sông"...
    Một canh hát quan họ, trước hết, là sự sum vầy bàu bạn trong tình sâu, nghĩa nặng, là sự thực hiện một khát khao gặp mặt, giao hoà, sau nhiều ngày đêm khắc khoải, chờ mong tơ tưởng:
    ...Ngày thì luống những âm thầm
    Ðêm nằm ít cũng tám, chín, mười lần chiêm bao...
    (Giọng La rằng)
    Thế rồi canh hát cứ tiếp diễn, tiến triển cùng với sự thôi thúc, đan xen của hai tình cảm mãnh liệt nhất của tuổi trẻ là tình yêu nam nữ và tình bạn thần tiên (chữ của Huy Cận, trong bài thơ "Với người Quan họ"). Người ta hát với nhau về ân sâu, nghĩa nặng, vì chỉ có ân sâu, nghĩa nặng, chỉ có tình gắn liền với nghĩa, với ân thì thương yêu kia mới thật, mới sâu, mới bền, mới chung thuỷ: ... Nghĩa người tôi bắc lên cần
    Tạc lên bia đá, để bên dạ vàng...

    ... Ðem vàng mà bắc lên cân

    Bên vàng nặng chín, bên ân nặng mười

    Canh hát càng về khuya thì tiếng hát quan họ càng bổng, trầm, non nỉ, tình người quan họ càng nồng đượm, thiết tha.
    ...Dây nào xe bốn chúng tôi
    Se chín lần kép, se mười lần đơn...

    Có những bài hát cứ láy đi láy lại 3, 4, lần bằng một âm hưởng xoáy sâu vào lòng người:
    ...Nay tôi tưởng đến người, mai tôi nhớ đến đôi ba người tình duyên...
    ... ơ này anh Hai ơi! ơ này anh Ba ơi! Cái chút tình sâu, trăm em xin đợi, nghìn em xin chờ, chờ từ đây...

    ... Sông sâu nước chảy đá mòn
    Tình thâm mong trả, nghĩa còn đấy đây

    Mong cho sum họp những ngày...

    Người quan họ nhìn nhau bằng một tấm lòng trân trọng lẫn nhau, trân trọng con người, nền tảng của tình yêu, tình bạn, nên họ phát hiện tinh tế những vẻ đẹp tâm hồn và hình thể của nhau. Sự phát hiện ấy lại được hát lên cho nhau, vì nhau, nên tiếng hát kia càng thấm sâu vào xúc cảm người hát, người nghe:
    ... Trúc xinh, trúc mọc đầu đình
    Anh Hai xinh, anh Hai đứng một mình cũng xinh

    Trúc xinh, trúc mọc bờ ao

    Anh Ba xinh, anh Ba đứng nơi nào cũng xinh

    Trúc xinh, trúc mọc đầu chùa

    Không yêu em lấy đạo bùa cho phải yêu

    Cây trúc, trong văn chương bác học cũng thường gặp, thường là biểu tượng cho một nhân cách đã đến đỉnh, một bản lĩnh sinh sôi, nảy nở vừa mềm mại, uốn lượn từ trong kẽ đá nhô ra, vừa cứng rắn thách thức cùng bão giông, mưa, tuyết... Anh Hai, anh Ba, anh Tư, chị Hai, chị Ba, chị Tư... cũng mang vẻ đẹp vẹn toàn ấy, hơn cả vẻ đẹp vẹn toàn ấy, nên "đứng một mình", "đứng nơi nào" cũng xinh. Cho nên "không yêu em (tôi) lấy đạo bùa cho phải yêu". Câu kết bài ca bộc lộ rõ ràng cũng một bản lĩnh xứng đôi với bản lĩnh, cốt cách của trúc và với một tình cảm mãnh liệt về sự thương yêu và được yêu.
    Canh hát càng về khuya, càng nhiều những bài hát như vậy được hát với tình cảm "như tỉnh như mê", "như là chiêm bao"..
    Người quan họ ước mơ sự hoà hợp, gắn bó sắt son, chung thuỷ. Nâng chén rượu xuân mời bạn khi gần tàn canh hát, trước lúc chia tay, người Quan họ hát:
    ... Tay nâng đĩa muối đĩa gừng
    Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau

    Một sự thuỷ chung kể cả vàng cũng không đổi được:
    ... Dù ai cho bạc, cho vàng
    Chẳng bằng trông thấy mặt chàng hôm nay

    Dù ai trao nhẫn lồng tay,

    Chẳng bằng trông thấy mặt ngay bây giờ

    Ngọn đèn khi tỏ khi mờ

    Nghĩa người đi gió về mưa xót thầm

    Rõ ràng đôi chữ đồng tâm

    Khi đã tàn canh hát, theo phong tục Quan họ, không thể không chia tay trước khi trời sáng hoặc khi mặt trời đã xế về tây (trong hát ngày hội), người Quan họ hát với nhau những bài hát giã bạn với tất cả nỗi niềm quyến luyến, nuối tiếc sự "sum họp trúc mai", "loan phương sánh bầy", "rồng được gặp mây" mà "trăm năm mới có một ngày":
    ...Người về em vẫn khóc thầm
    Ðôi bên vạt áo ướt đầm như mưa

    Người ơi! Người ở đừng về!...

    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] "[Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]" ngày nay đã trở thành lời níu kéo nặng tình, nặng nghĩa... trong bao cuộc chia tay từ Nam chí Bắc của đất nước và ở cả nước ngoài, có lẽ vì trong tiếng hát níu giữ kia của Quan họ đã ẩn tàng một tấm lòng, những nỗi niềm của Quan họ đối với bạn trong cả chiều dài lịch sử đi tìm bạn tri âm, tri kỷ.
    Ðã có niềm vui họp mặt thì cũng có nỗi buồn chia xa. Buồn đến "ruột héo, dạ sầu" nhưng Quan họ vẫn hy vọng, hẹn hò để hy vọng:
    ... Khăn áo người gửi lại đây
    Nhớ thương xếp để dạ dày này bao quên

    Quan họ về, đến hẹn lại lên!

    âm vang "đến hẹn lại lên" đã là âm vang ám ảnh, ẩn quất, dứt, nối... bao thế hệ Quan họ như một lời nguyện ước, một hy vọng về hạnh phúc, một sự trông đợi khôn nguôi. Có lẽ vì vậy, bốn chữ "đến hẹn lại lên", được hát lên khi về kết của một bài giã bạn
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    "[Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]" , cũng trở nên lời hẹn ước của bao cuộc chia tay hôm nay ở nhiều miền đất nước. Cũng chỉ bằng bốn chữ ấy thôi, con người hôm nay đã nói được bao điều muốn nói và nói được cả những điều chẳng thể nói ra, trong giây phút tạm biệt. Tạo nên cầu nối này của quá khứ và hiện tại là hiệu quả thẩm mỹ đã trở thành bất tử của sinh hoạt văn hoá Quan họ, của ca hát quan họ, nhưng trong đó, những điểm đỉnh của những thành tựu nghệ thuật cứ óng ánh, lấp lánh bao đời như thế buộc ta phải tìm hiểu, khám phá, học tập không ngừng.
    Tóm lại, sự khao khát yêu thương và được yêu thương giữa người với người, được biểu hiện ở nhiều sắc thái tình cảm của tình bạn, tình yêu nam nữ... cùng với những đỉnh điểm nghệ thuật của thơ ca, âm nhạc quan họ, đã trở thành nội dung tình cảm, tư tưởng chủ đạo trong hệ thống lời ca quan họ, góp phần tạo nên bất diệt của những giá trị quan họ.

    b - Một tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương thắm thiết
    Từ hệ thống lời ca quan họ, người quan họ đã phác vẽ tài tình về một quê hương với một tình yêu quê hương chân thật, tự nhiên mà thắm thiết. Trước hết, đó là một quê hương "sơn thuỷ hữu tình", những "đường về Quan họ", những "đầu làng có chiếc giếng khơi", những "cây gạo chon von", một "quán Dốc chợ Cầu", một "quán trắng phố Nhồi", những cửa chùa rộng mở ngày hội cho trai thanh gái lịch về sum vầy ca xướng, những đêm trăng suông "nửa đêm về sáng trăng bằng ngọn tre", những "dòng sông phẳng lặng nước đầy", một sông Dâu "ba bốn chiếc thuyền kề", những bến đò ngang "vẳng tiếng gọi đò""trăng nước một màu", những hội bơi chải, hội chùa Tiêu... quanh miếu, quanh đền... những "mùa xuân chơi hội thong dong", những "mùa hè tắm mát ở sông Lục Hà (Lục đầu)", và "trăm thứ hoá nó liền đua nở"v.v...
    Từ biển mặn, đầm lầy, ô trũng, qua bao thế hệ nhọc nhằn, cần cù và sáng tạo mới có một cảnh sắc quê hương ấy.
    Gắn liền với thiên nhiên, cảnh sắc ấy là những con người "như trúc mọc ngoài trời", có vẻ đẹp tâm hồn toả lên từ đôi mắt "lấp lánh, nhấp nhánh" như sao trời, có cái duyên trong nét cười "lúng liếng", trong vành nón ba tầm thao tua "mùi (màu) bông dâu", biết làm cho "một nong tằm là ba nong kén... chín nén tơ..." biết gắn bó đời mình với những "thửa ruộng năm sào... đôi tôi cấy, đôi người gặt...", biết chăm sóc, nuôi dạy con cái với ước mơ "đỗ liền ba khoa", coi "đèn sách văn chương" là một trong những chuẩn lớn của một tài trai, biết trọng tình, trọng nghĩa, trọng ân, trọng mối quan hệ giữa người với người, biết nhìn con người với mọi vẻ đẹp: "trăm hoa đẹp nhất hoá người"... Cảnh ấy, người ấy lại gắn liền với những ngày tháng trẩy hội mùa xuân, mùa thu, những canh hát thâu đêm "bổng trầm non nỉ..." ... đã tạo nên một quê hương - quê hương Quan họ - và một tình yêu quê hương nồng đượm, thiết tha.
    Tình yêu ấy lại càng sâu sắc khi người quan họ xây và giữ gìn quê hương mình không chỉ bằng mồ hôi, tâm sức và trí tuệ mà còn bằng máu, nước mắt, bằng những mất mát, hy sinh lớn lao trong suốt trường kỳ lịch sử giữ nước và dựng nước khi lịch sử và đất nước đặt trọng trách cho quê hương này là "phên dậu phía Bắc của Thăng Long".
    Trong hệ thống mấy trăm đoạn thơ, bài thơ... của lời ca Quan họ hàm chứa nhiều khía cạnh tâm hồn, tình cảm của con người Quan họ, do đó, giá trị nội dung tư tưởng của lời ca Quan họ cũng vô cùng phóng phú như sự phong phú của chính con người và đời sống tâm hồn, tình cảm của con người Quan họ.
    Nhưng sự khao khát yêu thương và được yêu thương trong tình bạn, tình yêu nam nữ, tình người vẫn là nội dung cơ bản, xuyên suốt hệ thống lời ca. Cùng với những tình cảm giữa người và người ấy, lời ca Quan họ tuy phác vẽ một cách tự nhiên như không bao giờ chú ý, nhưng lại gây một ấn tượng sâu sắc về một quê hương với cảnh, với người... mãi mãi chiếm lĩnh tình yêu của con người.
    Chính những tình cảm chủ đạo ấy trước hết đã góp phần hun đúc nên tâm hồn, tình cảm, tài năng... của người Quan họ, và, cùng với sức sống dài lâu nhiều khi kỳ diệu của tiếng hát Quan họ, những tình cảm chủ đạo trên mãi mãi thấm sâu trong lòng người nghe Quan họ, góp phần tạo nên những tâm hồn nhậy cảm, gắn bó với sự yêu thương giữa con người với con người, giữa con người cùng muôn vật, muôn loài.
    Nguyện đi với anh suốt con đường dài, dù cho khó khăn vẫn chờ ta phía trước

  8. 5 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới TheThuongNT cho bài viết hữu ích này:


  9. #14
    Truly Very Noob

    TheThuongNT's Avatar
    Ngày tham gia
    13-03-2010
    Đang ở
    Hải Phòng citi
    Bài viết
    3,790
    Thanks
    34,689
    Được THANKS 29,027 lần
    D - Nghệ thuật thơ ca trong lời ca Quan họ
    Hầu hết lời ca của các bài ca Quan họ là thơ lục bát hoặc lục bát biến thể. Có tài liệu đã thống kê, phân loại thì thấy trong tổng số 285 bài lời ca Quan họ in trong cuốn sách ấy, có 237 bài theo thể lục bát hoặc lục bát biến thể, chiếm chừng 80%, 29 bài theo thể bốn từ hoặc bốn từ hỗn hợp, chiếm 12%, 19 bài theo các lối biến thể khác 8%.
    Cũng có bài theo thể văn xuôi như bài "Ðêm qua nhớ bạn", bài "Tay em nâng cái cơi đựng trầu", bài "Ngày hôm qua em thấy con chim Thước..."
    Tiếng hát Quan họ tạo nên hiệu quả thẩm mĩ chính vì sự kết hợp nghệ thuật cao của thơ ca - âm nhạc - giọng hát người nghệ sĩ.
    Thơ ca trong lời ca Quan họ không phải mọi bài điều hay mà có bài hay cả bài, có bài có những đoạn thơ, những câu thơ hay. Nhưng vì vai trò đặc biệt của lời ca trong dân ca Việt Nam trong Quan họ, giữ vị trí rất quan trọng ngay từ bước phổ nhạc cho đến thói quen thưởng thức của người nghe...nên, người hát Quan họ lại càng phải nâng cao không ngừng trình độ am hiểu lời ca.
    Thơ lục bát và một số thể thơ trong lời ca Quan họ
    Một trong những đặc điểm của thể thơ lục bát là luật bằng trắc thể hiện luật phối thanh của thể thơ này.
    Ví dụ:
    Người về (B) em vẫn (T) khóc thầm (B)
    Ðôi bên (B) vạt áo (T) ướt đầm (B) như mưa (B)

    Như vậy, nếu theo lệ phổ biến như trên thì các thanh ở câu sáu chữ cũng như ở câu tám chữ nếu đứng vào hàng chẵn như chữ thứ 2, 4, 6 phải tuân theo luật bằng trắc như ví dụ kể trên, còn những chữ đứng vào hàng lẻ như chữ thứ 1, thứ 3, thứ 5, thứ 7 không buộc phải theo luật bằng trắc thật nghiêm ngặt.
    Có những trường hợp một cặp thơ sáu tám, do yêu cầu sáng tạo của âm nhạc, khi hát người hát lại hát 4 chữ cuối của câu 6 chữ sau đó mới bắt vào toàn câu 6 chữ và câu tám chữ cũng bị biến đi thành 11 chữ khi hát:
    Lên tận tiên cung
    Bực mình lên tận tiên cung

    Gọi ông tơ (hồng) xuống hỏi (thăm) ông (một) đôi lời

    Trêu ghẹo chi tôi

    Lỡ nào trêu ghẹo chi tôi

    Lênh đênh bèo nổi hoa trôi qua thì...

    ấy là chưa kể hàng chục tiếng đệm lót xen vào các chữ chính của câu thơ. [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]:
    Sáng cả (cái) đêm (hôm) rằm...
    (Là cái ) sáng giăng (à) xuông...

    Sáng cả (cái) đêm hôm (à) rằm...

    Lõi của đoạn hát trên chỉ là câu 6 chữ trong một cặp thơ 6/8:
    Giăng xuông sáng cả đêm rằm
    Nửa đêm về sáng giăng bằng ngọn tre.

    Sự đảo lộn, thêm bớt chữ như vậy đã tạo điều kiện cho sự sáng tạo của âm nhạc đồng thời khắc hoạ thật đậm, sâu, thành công, một đêm giăng xuông thao thức, vắng lặng đến mênh mông...
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Ngồi (rằng là) ngồi tựa (ối a) song đào
    ngồi tựa (ối a) song đào

    Hỏi người (là người) tri kỷ ra vào có thấy vấn vương

    Hự rằng hứ hối hư

    Gió (rằng là) gió lạnh (ối a) đêm trường

    Gió lạnh (suốt) đêm (dông) trường

    Nửa chăn (là chăn) nửa chiếu (ối a) cũng có nửa giường (là) nửa giường để đấy đợi ai

    Hự rằng hứ hối hư

    Lời của đoạn hát trên có thể được ghi thành thơ như sau:
    Ngồi tựa song đào
    Hỏi người tri kỷ ra vào vấn vương

    Gió lạnh đêm trường

    Nửa chăn, nửa chiếu, nửa giường, đợi ai.

    Cũng có người gọi thơ 4/8 như vậy là một dạng biến thể của thơ 6/8. Người nghệ sĩ thơ ca và người nghệ sĩ âm nhạc (có thể là một người, hai người, hoặc ba người...) trong Quan họ đã sáng tạo thơ lục bát trong thể biến hoá tài tình cả về số chữ, luật phối thành âm bằng trắc, sự hiệp vần... khiến những bài ca nổi tiếng khi ca lên thấm sâu và gây xúc động lòng người bằng cả tình thơ, ý thơ, nghệ thuật thơ, nghệ thuật âm nhạc và ca hát.
    Ngoài thể thơ lục bát (với các dạng biến thể), một số lời Quan họ còn sử dụng thể thơ 4 chữ:
    Mồng năm chợ ó
    Quan họ dồn về

    Hội vui lắm lắm...

    Cũng có khi dùng thể thơ song thất lục bát:
    Con gà sống đang đêm gáy giục
    Ðể gọi chàng dạy học kẻo khuya

    Chàng ơi dậy học kẻo khuya

    Dầu hao thiếp chịu, đèn mờ thiếp khêu...

    Ðôi khi có những đoạn thơ 7 chữ, có vần, nhưng không tuân thủ những quy tắc về niêm, luật, bằng trắc, đối... của thơ nước ngoài.
    ... Tôi với người Châu, Trần là ngãi
    Xin người đừng già kén kẹn hom

    Tiếng thị phi luống những om sòm

    Thôi thấm thoát ngựa hồ qua cửa sổ

    Kết của Bài [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] là một bài 7 chữ 4 câu:
    Trộm nghe danh giá động lòng nho
    Cung quế hương đưa trải mấy thu

    Ðạn ngọc giang tay buồng đàn thước

    Sông ngân chờ dịp bắc cầu Ô

    Tuy hiếm, nhưng cũng có bài lời ca chẳng theo thể thơ nào, nhưng có vần, điệu:
    Trên trời ba mươi sáu thứ chim
    Thứ chim chèo bẻo, thứ chim chích choè

    Trong quan họ có người trồng tre

    Thứ tre chẻ lạt, thứ tre làm nhà

    Có cả những bài gần như văn xuôi, không vần
    Ngày hôm qua tôi thấy con chim thước nó báo tin
    Quan họ (ấy mấy chơi, ấy mấy) sang chơi

    Tôi cũng biết rằng ngay hôm nay Quan họ đến chơi nhà, ấy mấy vui tôi mới lại thêm vui, ấy mấy vui, mới lại thêm vui...

    Như vậy, trong hệ thống lời ca Quan họ, người nghệ sĩ Quan họ đã biết sử dụng tài tình biến hoá thể thơ lục bát và tạo nên những bài ca theo thể thơ này có thể tồn tại độc lập mà vẫn có những giá trị nghệ thuật thơ ca ở trình độ cao. Nhưng khi cần thiết, người Quan họ cũng sử dụng một số thể thơ khác kể cả văn xuôi để làm lời ca và cũng có những thành công ở những mức độ khác nhau.
    Nguyện đi với anh suốt con đường dài, dù cho khó khăn vẫn chờ ta phía trước

  10. 5 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới TheThuongNT cho bài viết hữu ích này:


  11. #15
    Truly Very Noob

    TheThuongNT's Avatar
    Ngày tham gia
    13-03-2010
    Đang ở
    Hải Phòng citi
    Bài viết
    3,790
    Thanks
    34,689
    Được THANKS 29,027 lần
    E - Ngôn ngữ thi ca trong lời ca Quan họ
    Ngôn ngữ thi ca trong lời ca Quan họ đạt tới những thành tựu nghệ thuật đặc sắc, độc đáo. Một ngôn ngữ khi thì mộc mạc đồng quê, khi thì trau chuốt tài hoa nhưng bao giờ cũng giàu tính hình tượng, sâu đậm nghĩa tình.
    Ngôn ngữ ấy đã thu hút nhiều tinh hoa của nghệ thuật ngôn ngữ thơ ca dân gian, thơ ca bác học... để rồi tạo nên sắc thái riêng với những giá trị nổi bật, góp phần tạo nên những giá trị riêng của bài ca quan họ.
    Ta có thể tìm hiểu một số thành tựu tiêu biểu của ngôn ngữ thơ ca trong lời ca quan họ Sự mộc mạc và sự trau chuốt Có một số lời ca quan họ, nếu tách riêng lời ca thành văn bản, thì bước đầu tiếp xúc, có khi ta chưa thấy hết cái đẹp, cái hay của lời ca đó, nhất là cảm thụ theo góc độ thi ca thuần tuý.
    Ví dụ, lời bài ca "Trên rừng 36 thứ chim"
    Trên rừng ba mươi sáu thứ chim
    Thứ chim chèo bẻo, thứ chim chích choè

    Trong Quan họ có người trồng tre

    Nhưng khi tiếng hát rộn ràng bài hát đó lên, ta bị cuốn hút dần vào bài ca, và, trong nhiều xúc cảm, thì một xúc cảm gây ấn tượng sâu sắc trong ta là: sự mộc mạc của ngôn từ lời ca đã đưa ta đến bắt gặp một dáng dấp, một phong cách, một dạng hình, một tâm hồn... cũng hết sức mộc mạc nhưng rất đáng yêu của con người lao động một thời, con người ấy phải được miêu ta bằng ngôn từ ấy.
    Chính sự mộc mạc nghệ thuật, không giống sự dễ dãi của ngôn từ lời ca quan họ đã gây xúc cảm cho từ người lao động ít đến những bậc đại khoa, những thi sĩ có tài.
    Bài "Em là con gái Bắc Ninh" cũng cho những thí dụ về sự mộc mạc của ngôn từ.
    Mở đầu bài:
    Ðôi tay nâng lấy cơi giầu
    Trước mời quý khách, sau mời đôi bên

    Em là con gái Bắc Ninh...

    Trong lời ca mở đầu trên không thấy vần của thơ, từ ngữ mộc mạc như lời nói. Những từ ngữ mộc mạc kia đã gắn quyện với dáng dấp xinh đẹp và nền nã của "Em là con gái Bắc Ninh", với miếng giầu mặn nồng tình thắm nghĩa của làng quê quan họ... khiến ngay từ giây phút ban đầu, lời ca đã cuốn hút lòng người bằng từng tiếng một.
    Bài ca tiếp tục cho đến lúc kết bài ca:
    ... ơ này anh Hai ơi
    ơ này anh Ba ơi!

    Trăm em xin đợi

    Nghìn em xin chờ

    Chờ từ đây...

    Lại những câu không vần, như lời nói nhiều đôi nam nữ vẫn nói cùng nhau những lời hẹn ước, thề nguyền như vậy. Nhưng, như ẩn trong sự mộc mạc của ngôn từ một sức mạnh riêng làm xao xuyến lòng người, và, dư âm bài ca ngân mãi trong lòng người, trong cả đời người. Sức mạnh ấy chính là sự chắt lọc tinh chất của sự mộc mạc và diễn đạt sự mộc mạc ấy bằng tiếng nói đích thực của trái tim.
    ở một bài ca khác, bài [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] thì lại chiếm lĩnh tâm hồn người nghe không phải bằng một ngôn từ mộc mạc như lời nói mà lại chiếm lĩnh người nghe bằng một lời ca có ngôn từ rất trau chuốt, một nghệ thuật vần, điệu công phu, những hình ảnh nên thơ, nên nhạc:
    Ngồi tựa mạn thuyền
    Giăng (trăng) in mặt nước, càng nhìn non nước càng xinh

    Sơn thuỷ hữu tình

    Thơ ngâm ngoài lái, rượu bình giải trí trong khoang

    Tay dạo cung đàn

    Tiếng tơ, tiếng trúc, bổng trầm, non nỉ, thiết tha

    ...
    (Ngồi tựa mạn thuyền)
    Hoặc:
    Ngồi tựa song đào
    Hỏi người tri kỷ ra vào có thấy vấn vương

    Gió lạnh đêm trường

    Nửa chăn, nửa chiếu, nửa giường để đấy đợi ai...
    (Ngồi tựa song đào)
    Một ngôn ngữ đầy hình tượng, âm thanh: có cảnh, có tình, cảnh tình hoà quyện và "bổng trầm, non nỉ..." âm thanh. Từ cảnh ấy, tình ấy, nổi bật lên con người "tài trai" và "thục nữ", con người khao khát, đắm say vẻ đẹp của thiên nhiên, của tình người.
    Cho nên, dù ngôn từ lời ca Quan họ được thể hiện trong dạng mộc mạc, hoặc trau chuốt, bóng bảy, đều đạt tới hiệu quả nghệ thuật cao. Ðược như vậy chính vì người sáng tạo lời ca biết gạn lọc, lựa chọn ngôn từ ở trình độ cao, có một trình độ tích luỹ, am hiểu sâu rộng về thơ ca dân gian và cao hơn hết là sự rung cảm nghệ thuật tinh tế, chân thành.
    Nguyện đi với anh suốt con đường dài, dù cho khó khăn vẫn chờ ta phía trước

  12. 4 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới TheThuongNT cho bài viết hữu ích này:


  13. #16
    Truly Very Noob

    TheThuongNT's Avatar
    Ngày tham gia
    13-03-2010
    Đang ở
    Hải Phòng citi
    Bài viết
    3,790
    Thanks
    34,689
    Được THANKS 29,027 lần
    F - Nghệ thuật xây dựng hình tượng trong lời ca
    Ngôn ngữ trong lời ca Quan họ cũng giàu tính hình tượng như ngôn ngữ thơ ca dân gian nói riêng và ngôn ngữ thơ ca nói chung. Ta có thể tìm hiểu một số thành tựu về thủ pháp xây dựng hình tượng trong lời ca Quan họ.
    Có những hình tượng đã quen thuộc và được khẳng định giá trị nghệ thuật trong thơ ca và nghệ thuật tạo hình từ rất sớm, ví dụ hình tượng cây trúc trong thơ ca và hội hoạ, điêu khắc... từ nhiều thế kỷ. Hình tượng cây trúc ta thường gặp ấy đã trở nên biểu tượng cốt cách, phẩm chất của người quân tử: cứng rắn, vươn thẳng, sức sống dẻo dai, bền vững trước mọi thử thách; ý chí kiên định; nhân cách thanh cao...
    Nhưng hình tượng cây trúc trong lời ca Quan họ lại mang những biểu tượng gần gũi với phong độ, cốt cách, phẩm chất đẹp đẽ của người bình dân:
    Hôm nay xum họp trúc mai
    Tình trong một khắc, nghĩa dài trăm năm...

    (La Rằng)
    Người như trúc mọc ngoài trời..
    Hoặc
    Trúc xinh trúc mọc sân đình
    Anh (Hai) xinh anh (Hai) đứng một mình cũng xinh

    Trúc xinh trúc mọc bờ ao

    Anh (Ba) xinh anh (Ba) đứng nơi nào cũng xinh

    Trúc xinh trúc mọc đầu chùa.

    Không yêu em lấy đạo bùa phải yêu.

    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Người Quan họ đã dành cả một bài ca cho trúc, không phải cho trúc quân tử mà cây trúc xinh, cây trúc gần gũi, đáng yêu, quen thuộc, biểu tượng cho anh Hai, anh Ba, chị Hai, chị Ba... xinh; đứng một mình cũng xinh; đứng nơi nào cũng xinh.
    Hình tượng cây trúc trong lời ca Quan họ đã dẫn đến một biểu tượng không hoàn toàn lặp lại biểu tượng quen thuộc của trúc mà đã biến hoá đi thành một biểu tượng về vẻ đẹp theo góc độ thẩm mĩ của người bình dân, người Quan họ. Ðó là cây trúc xinh thì bài ca mới có thể về kết với lời thơ gắn bó mãnh liệt, lời tỏ tình nồng nàn, kiên định:
    Không yêu em lấy đạo bùa (cho) phải yêu
    Sự trùng hợp có biến hoá trong thủ pháp xây dựng hình tượng giữa nghệ thuật bác học, chính thống và nghệ thuật ngôn ngữ trong thơ ca quan họ ở bài [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] đã để lại cho đời một bài lời ca hay và một hình tượng đặc sắc.
    Hình tượng con đò, con thuyền được biểu hiện khá thành công trong nhiều bài ca Quan họ.
    Một quê hương sông, nước, đồng chiêm, hết thế hệ này đến thế hệ khác gắn bó với những chiếc đò ngang, đò dọc, những chiếc thuyền thúng suốt mùa mưa úng, những chiếc thuyền buôn trên nhiều ngả sông xuôi ngược... đã khiến con đò, con thuyền trên sóng nước đi vào cảm hứng nghệ thuật và trở nên hình ảnh gửi gắm biết bao nỗi niềm tâm sự về thân phận con người, về cuộc đời. Có bài khảo cứu đã thống kê thấy có 63 bài lời ca có chữ thuyền hoặc đò.
    Có khi thuyền như người bạn tri âm trong những đêm[Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] để cùng người bồng bềnh trên sông nước quê hương, thưởng thức những thú vui tao nhã:
    Ngồi tựa mạn thuyền
    Trăng in mặt nước càng nhìn non nước càng xinh

    Có khi thuyền, đò hiện lên như biểu tượng về một sự "mong manh" trong cuộc đời "bãi biển mông mênh" để cho người chờ, người đợi, người gọi... và người tin con đò kia sẽ đến, vẫn "nhất tâm đợi chờ, dù "gọi đò chẳng thấy đò thưa" trong suốt cả bài ca [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    Có khi thuyền, đò, bè mảng là biểu tượng của một thân phận, một cuộc đời, một tình duyên... đi trong cuộc đời như đi trong một dòng sông nhiều nghềnh thác:
    Có ai xuôi về
    Cho tôi nhắn lời về

    Cho tôi nhủ lời về

    Nhắn cùng bầu bạn xuống bè xuôi đông

    Lên thác (thì ai ơi) xuống ghềnh

    Lên thác đã vậy, xuống ghềnh thì sao?

    Có yêu nhau (thì) ngỏ cửa ra vào...

    (Ai xuôi về)
    Ðể rồi dẫn đến những điều nhắn nhủ người thương về một phẩm chất cần có trong tình yêu nam nữ, tình bạn, tình người
    ... Có yêu nhau (thì) nón cũng như dù...
    ... Có yêu nhau (thì) đá cũng như vàng...

    Cũng có khi "thuyền mở lái chèo, bắt lái chèo ra" được ví như con người vào đời để đi tìm hạnh phúc:
    Thuyền mở lái chèo
    Bắt lái chèo ra

    Nhịp hai, anh Hai đi tìm vợ

    Nhịp ba, chị Ba đi tìm chồng

    Thương lấy nhau cùng

    Có mũi, có lái, như rồng có mây...

    Thuyền, đò trong nước lặng, sóng yên thì ít mà trong sự nổi nênh, lênh đênh, dòng dành... thì nhiều. Tuy nhìn và miêu tả thành công sự nổi lênh đênh của thuyền, đò trên sóng nước như con người đi trong cuộc đời nhiều ghềnh thác, nhưng người quan họ không bi quan mà, về kết các bài ca thường là những lời nhắn nhủ về một niềm tin:
    Có yêu nhau... thì đá cũng như vàng
    hoặc:
    Muốn cho gần bến gần thuyền
    Gần thày, gần mẹ nhân duyên cũng gần...

    Do yêu cầu đối giọng, đối lời trong ca hát Quan họ, nên người Quan họ nhiều khi rất thành công trong nghệ thuật sáng tạo nên những cặp đôi hình tượng đối xứng trong những cặp đôi bài ca đối đáp.
    Bài "Ngồi tựa mạn thuyền" và bài "Ngồi tựa song đào" là một cặp đôi bài ca đối đáp. Chính vì vậy ở 2 bài ca này ta thấy một cặp đôi hình tượng đối xứng.
    ở bài "Ngồi tựa mạn thuyền", người Quan họ đã vẽ lên hình tượng những con người tài trai, phong nhã yêu thiên nhiên "sơn thuỷ hữu tình", "giăng in mặt nước"; yêu những thú vui thanh cao: thơ, rượu, đàn ca... Ðúng là "văn nhân, tài tử"' một thời.
    Ðể đối xứng với người "văn nhân, tài tử" ấy, người quan họ đã vẽ lên hình tượng "người thục nữ" của một thời: ngồi tựa song đào; nửa chăn, nửa chiếu, nửa giường để đấy đợi ai...; đa cảm, đa tình...
    Sự đối xứng giữa "tài trai" và "thục nữ" đã tạo nên sự đối chỉnh của hai bài ca. Tạo nên được sự đối chỉnh như vậy trong sáng tạo lời ca đòi hỏi người sáng tạo có trình độ ngôn từ và xây dựng hình tượng cao khi sáng tác. Hoặc, ta thử phân tích một cặp bài "đối" để tìm hiểu nét đặc sắc về nghệ thuật sáng tạo nên những cặp đôi đối xứng về hình tượng, hình ảnh, từ ngữ... trong lời ca Quan họ:
    Bài 1:
    Lóng lánh: Lóng lánh là lóng lánh ơi!
    Mắt người lóng lánh như sao trên trờ

    Tôi nhớ người lắm lắm người ơi!...

    Bài 2:
    Lúng liếng Lúng liếng là lúng liếng ơi!
    Miệng người lúng liếng có đôi đồng tiền

    Tôi với người muốn kết mhân duyên!...

    Bài 1 thường do các liền chị hát. Các chị hướng về phía các anh hát "Lóng lánh là lóng lánh ơi!..." Gọi các anh cũng là gọi cái "lóng lánh, nhấp nhánh, óng ánh..." của đôi mắt "như sao trên trời" của các anh. Thế là chỉ một câu thơ 6 chữ với từ "lóng lánh" tài tình, lặp lại cũng tài tình, các chị đã nói được cả vẻ đẹp hình thể và vẻ đẹp tâm hồn của bạn mình, nói được tình cảm đằm thắm, thiết tha của lòng mình hướng về bạn; bộc lộ được quan niệm về vẻ đẹp cao quý, thuần khiết.
    Khi nghe hát trọn vẹn lời ca, cùng một lúc nổi lên hai hình tượng: những liền anh Quan họ với vẻ đẹp hình thể, tâm hồn vẹn toàn và phía sau, kín đáo nhưng cũng khá ró, là hình tượng liền chị Quan họ có tâm hồn biết trân trọng và phát hiện để nâng niu, để hướng tới, để yêu quý những vẻ đẹp của bạn mình.
    Một bài lời ca có 3 câu mà có những thành tựu đặc sắc như vậy về nghệ thuật ngôn từ, và cũng nói được nhiều điều khó nói mà muốn nói như vậy, thì, bài đối lại phải đáp ứng sao cho ít nhất cũng "tương hằng", như cách nói quan họ và nếu hay hơn, giỏi hơn thì lại càng đặc sắc.
    Bài đối lại là bài "Lúng liếng" thường do các anh hát. Tìm được từ "Lúng liếng" để đối xứng với từ "Lóng lánh" của bài 1 thì thật là một thành công vượt bực: cũng một kiểu cấu tạo từ lấp láy; cũng thiết tha gọi tới nét duyên nhất của bạn mình là nét cười "lúng liếng" với đôi má lúm đồng tiền; cũng bộc lộ sự trân trọng, yêu quý luôn dành cho bạn; và cũng đồng thời gợi lên hình tượng liền chị, liền anh, tinh tế, thông minh, duyên dáng, tài hoa trong vẻ đẹp vẹn toàn.
    Cùng với sự đối xứng của âm điệu âm nhạc của hai bài ca, người Quan họ đã sáng tạo nên một cặp bài ca đối và một cặp hình tượng đối xứng rất thành công theo lề lối ca hát trong Quan họ: đối nhạc, đối lời (ý, tình, hình ảnh, hình tượng, từ ngữ...)
    Nguyện đi với anh suốt con đường dài, dù cho khó khăn vẫn chờ ta phía trước

  14. 5 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới TheThuongNT cho bài viết hữu ích này:


  15. #17
    Truly Very Noob

    TheThuongNT's Avatar
    Ngày tham gia
    13-03-2010
    Đang ở
    Hải Phòng citi
    Bài viết
    3,790
    Thanks
    34,689
    Được THANKS 29,027 lần
    G - Nghệ thuật sử dụng từ có nghĩa xác định cụ thể để mở ra sự trừu tượng, sự hàm ý phong phú, sâu rộng của lời ca
    Người Quan họ rất tài tình trong việc sử dụng nhũng từ có ý nghĩa xác định cụ thể, để mở ra sự trừu tượng, sự hàm ý phong phú, sâu rộng, làm cho lời ca ít lời mà sâu sắc, luôn luôn rộng mở về ý, khiến người nghe, người cảm thụ phát huy được khả năng liên tưởng, tưởng tượng, cảm xúc.
    Thí dụ:
    ... Năm canh, sáu khắc, người ơi!
    Người cười nửa miệng, em vui nửa lòng

    Người cười nửa miệng, em vui nửa lòng: cửa nửa miệng, vui nửa lòng, vừa là những hình ảnh cụ thể, là những từ mang tính xác định, nhưng lại để người nghe rơi vào sự liên tưởng, tưởng tượng đạt tới cảm xúc, nhận thức ở những mức độ khác nhau của sự vô hạn, và cũng rất trừu tượng về sự gắn bó tình cảm, gắn bó thân phận giữa người cửa nửa miệng và em vui nửa lòng.
    Cũng sử dụng thủ pháp ấy, nhưng tinh tế, sâu sắc, kín đáo đến mức nghe lâu, ngẫm lâu mới thấy ý muốn nói, mà khi đã thấy rồi thì lại thấy ý tình muốn nói kia thật rõ ràng, không cầu kỳ ẩn dấu.
    Thí dụ:
    Người về để nhện giăng mùng
    Năm canh luống những lạnh lùng cả năm

    "Nhện giăng tơ" là hình ảnh thường gặp, nhưng [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] thì ít gặp. Nhện giăng tơ thường là hình ảnh của sự tơ vương, vương vấn, vương vít... một cách mong tinh tế trong tình yêu. Nhưng nhện giăng mùng thì lại gợi ý khác. Mùng là tiếng cổ để chỉ cái màn chống muỗi ngày nay ta vẫn dùng. Mùng gợi lên sự giăng mắc, bịt bùng. Nhện giăng mùng lại đặt sau Người về - sự chia ly, xa, vắng - khiến ta nghĩ tới sự quạnh vắng, cô đơn, thương nhớ... giăng mắc bịt bùng vây toả khi phải chia xa cùng người. Mong manh, nhưng suốt cả năm canh cũng chẳng vượt nổi sự vây bủa, bịt bùng ấy. Từ những hình ảnh cụ thể, xác định đã mở ra sự vẫy vùng vô hạnh của tưởng tượng và cảm xúc để người hát, người nghe đồng cảm với sự bịt bùng trong nỗi buồn chia xa mênh mông vô hạn.
    ở một thí dụ khác:
    Bồ câu bay thấp liệng cao
    Bay ra cửa phủ bay vào trong dinh

    Ðèn trời khêu ngọn tam tinh

    Khêu lên cho tỏ ta nhìn mặt nhau

    Nhìn người chẳng dám nhìn lâu

    Nhìn qua cho bõ cơn sầu mà thôi.

    Hai câu đầu của bài lời ca "Bồ câu...vào trong dinh" ta đã gặp ở một bài ca dao khác. Nhưng tại sao lại được đặt vào đây? Hai câu tiếp "Ðèn trời...ta nhìn mặt nhau" hình như chẳng liên quan gì đến ý hai câu đầu. Ðọc tiếp hai câu cuối: "Nhìn người...bõ cơn sầu mà thôi" ta bắt gặp một cái nhìn: nhìn qua cho bõ cơn sầu. Tất cả sáu câu thơ dồn vào cái nhìn này. Từ cái nhìn qua ấy ta mới ngược lên nghĩ về hai câu đầu, về cánh chim câu bay thấp liệng cao mà ngay đầu bài đã miêu tả, không chỉ bằng lời thơ mà còn bằng cả thủ pháp âm nhạc nữa. Vậy cánh chim bay liệng chao chao kia gắn bó gì với cái nhìn qua này? Lúc ấy ta mới hiểu rằng cánh chim câu chao chao bay thấp, liệng cao, khi vụt hiện, khi vụt khuất, khi vụt tỏ, khi vụt mờ kia sao mà giống cái nhìn qua kia đến vậy? Cũng như một vệt nắng, một cánh chim chao liệng, cái nhìn qua ấy, tưởng như hờ hững, nhưng dù tỏ, dù mờ, dù khuất, dù hiện vẫn trong vòng "cửa phủ", "trong dinh", vẫn là cái nhìn qua cho bõ cơn sầu mà thôi dành cho bạn của mình. Nhìn qua mà chẳng qua loa, bởi vì bao tình, bao ý, bao nỗi niềm dồn vào cái nhìn qua ấy, và người sáng tạo lời ca, âm nhạc đã dồn cả tâm sức vào miêu tả cái nhìn qua ấy.
    H - ảnh hưởng qua lại giữa lời ca Quan họ với thơ ca dân gian, dân tộc
    Lời thơ trong lời ca Quan họ gắn bó, có ảnh hưởng qua lại đối với ca dao, lời các dân tộc khác, lời thơ trong hệ thống truyện nôm khuyết danh, hoặc truyện nôm có tác giả, nhất là với truyện Kiều.
    Cũng thấy những trường hợp lời ca Quan họ có những câu giống với lời ca chèo, chầu văn và một số dân ca các vùng miền khác. ở đây tìm hiểu thêm mối liên hệ giữa lời thơ Truyện Kiều và lời thơ trong lời ca Quan họ, cũng là mối liên hệ giữa thơ ca dân gian với một tác phẩm thơ ca thành văn vào bậc lớn nhất của Văn học Việt Nam, để từ đó tìm hiểu những thủ pháp nghệ thuật mà người Quan họ đã xử lý trong mối quan hệ nhiều chiều trên con đường sáng tạo lời ca.
    Khi nói tới mối liên hệ này, sẽ không khoa học nếu chỉ giới thiệu rằng khi sáng tạo lời ca Quan họ, người Quan họ chỉ hoàn toàn học tập Truyện Kiều, mà cần nghĩ thêm rằng Nhuyễn Du khi sáng tạo truyện Kiều đã thu hút những tinh hoa của thơ ca dân gian, trong đó không loại trừ hệ thống lời ca Quan họ, nhất là Nguyễn Du có quê mẹ ở quê hương Quan họ và đã từng sống trên quê hương này với thời thơ ấu cũng như khi đã trưởng thành. Mối liên hệ giữa lời ca Quan họ và lời thơ Truyện Kiều tồn tại dưới nhiều dạng thức.
    Có khi giống nhau nguyên văn từng đoạn:
    ... Ngọn đèn khi tỏ khi mờ
    Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu

    Khi tựa gối, khi cúi đầu

    Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày...

    Nếu đoạn thơ trên là một đoạn thơ mượn từ Truyện Kiều - cũng có thể tin như vậy - cũng chứng tỏ người sáng tạo lời ca Quan họ đã sành về nghệ thuật thơ ca khi chọn lựa đoạn thơ ấy nói điều phải nói.
    Nhưng dạng trên không nhiều mà sự giống nhau từng câu, từng cặp lục bát, hoặc nhiều chữ trong một câu... diễn ra nhiều hơn. Ðiều này chứng tỏ người quan họ khi làm lời ca đã luôn giữ quyền chủ động, bản lĩnh sáng tạo của mình.
    Nếu có một câu hoặc một cặp thơ sáu tám nào đó giống nhau được đặt vào làm lời ca đã luôn giữ quyền chủ động, bản lĩnh sáng tạo của mình.
    Nếu có một câu hoặc một cặp thơ sáu tám nào đó giống nhau được đặt vào bài lời ca Quan họ thì thường đấy là những câu thơ hay, lại được đặt đúng chỗ, tạo nên sự nhất quán của đoạn thơ, bài thơ:
    ... Ruột tầm chín khúc quặn đau
    Lòng này ai tỏ cho nhau hỡi lòng?

    Bước đi một bước trông chừng còn xa

    ....

    Hoặc
    ...Cớ sao tôi phải lạc loài tới đây
    Ai làm nên nỗi nước này

    Hoa ơi ! Sao khéo đọa đày bấy hoa

    Có khi chỉ khác đi một đôi chữ mà mang theo bao nhiêu biến đổi trong nội dung câu thơ
    trong Truyện Kiều có 2 câu:
    ...Người vào chung gối loan phòng
    Nàng ra tựa bóng đèn chong canh chày...

    Ðây là hai câu thơ Nguyễn Du đã viết về nỗi đau trọn đời không quên của Kiều: cảnh cuối cùng trong màn kịch đánh ghen của Hoạn Thư là đẩy Kiều vào sự bẽ bàng, đau khổ đến tột độ về thân phận, giữa đêm dài, trong sự cô đơn. Nguyễn Du nêu lên một nghịch cảnh:
    Cảnh: chung gối loan phòng (Hoạn Thư-Thúc Sinh)
    Cảnh: tựa bóng đèn chong canh chày (Kiều)
    Từ nghịch cảnh ấy, Nguyễn Du miêu tả nỗi đâu thân phận của Kiều. Nhưng, Quan họ cũng có câu hát:
    Người về tựa chốn loan phòng
    Tôi về tựa bóng đèn chong canh chầy

    Trong câu hát này có 5 chữ khác nhau so với 2 câu thơ Kiều, nhưng đã chuyển từ một nghịch cảnh đau khổ trong 2 câu thơ Nguyễn Du chuyển sang cảnh hướng về nhau trong nỗi tương tự của tình yêu trong lời ca Quan họ.
    Cũng "Loan phòng", cũng "tựa bóng đèn chong canh chầy", nhưng là hai tâm hồn hướng tới nhau trong nỗi nhớ thương muôn thủa của tình yêu.
    Ðối với dân ca vùng khác, về phương diện âm nhạc, các nhà nghiên cứu âm nhạc đã nhận rõ sự du nhập vào hệ thống bài ca Quan họ của các điệu lý miền Trung, Lý miền Nam, nhưng đã chuyển hoá đi nhiều hoặc ít, theo phong cách âm nhạc Quan họ.
    Trong các bài du nhập ấy có cả phần lời ca. Ta thử tìm hiểu một lời ca. Lời ca của bài [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]:
    Trèo lên trên núi Thiên thai
    Thấy chim loan phượng ăn soài bên đông

    (ăn ngoài biển đông)(?)

    Anh Hai buông áo em ra

    Ðể em đi chợ kẻo đà chợ trưa

    Chợ trưa rau sẽ héo đi

    Lấy chi nuôi mẹ, lấy gì nuôi em

    Trong bài lời ca trên có những điểm cần lưu ý về nghệ thuật ngôn từ - ăn soài bên đông: vùng Quan họ và miền Bắc nói chung không gọi trái soài như miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ, mà gọi là quả muỗm hoặc quả quéo.
    Vậy, có thể nghĩ rằng hai câu thơ đầu có dấu vết của ngôn ngữ miền Nam.
    Trong ca dao có 4 câu:
    Cậu cai buông áo em ra
    Ðể em đi chợ kẻo đà chợ trưa

    Chợ trưa rau sẽ héo đi

    Lấy chi nuôi mẹ, lấy gì nuôi em?

    Lời bài ca quan họ "Lý thiên thai" chỉ khác 4 câu ca dao trên ở chỗ thay cậu cai bằng anh Hai
    Ngay chữ chi trong lấy chi nuôi mẹ cũng rất lạ đối với cách nói vùng Quan họ. Người vùng Quan họ lẽ ra phải hát: "lấy gì nuôi mẹ, lấy gì nuôi em?". Nhưng chữ gì thứ nhất đã được thay bằng chữ chi, chính xác hơn là giữ nguyên chữ chi trong lấy chi - dáng dấp ngôn ngữ miền Trung, miền Nam, - Giữ như vậy, thanh điệu câu thơ hay hơn và khi hát bắt lời hợp với nhạc hơn, lại không làm câu thơ rơi vào sự lặp từ không nghệ thuật.
    Trong nghệ thuật làm lời ca, người Quan họ đã biết sử dụng thể loại thơ, nhất là thể loại thơ lục bát với tất cả mọi dạng biến thể của thể loại này, biết thu hút những tinh hoa của nghệ thuật thơ ca dân gian, dân tộc, nhất là những tác phẩm nổi tiếng của dân tộc như Truyện Kiều, biết sử dụng ngôn ngữ thơ ca để xây dựng nên những hình tượng trữ tình đặc sắc, những đoạn thơ, câu thơ, ý thơ mới chỉ cần đọc diễn cảm, chưa cần hát, đã khiến người nghe xúc động, bồi hồi vì tình, vì ý... của thơ.
    Chính vì những thành tựu trong nghệ thuật thơ ca như vậy, nên nhiều bài lời ca Quan họ có giá trị độc lập của thơ ca. Liên kết những bài lời ca có giá trị thơ ca cao với sự sáng tạo âm nhạc và những giọng hát hay, đẹp của người Quan họ, chúng ta đã có những bài hát sống mãi.
    Nguyện đi với anh suốt con đường dài, dù cho khó khăn vẫn chờ ta phía trước

  16. 5 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới TheThuongNT cho bài viết hữu ích này:


  17. #18
    Truly Very Noob

    TheThuongNT's Avatar
    Ngày tham gia
    13-03-2010
    Đang ở
    Hải Phòng citi
    Bài viết
    3,790
    Thanks
    34,689
    Được THANKS 29,027 lần
    VII - Âm nhạc dân ca quan họ
    ***
    A- Bài bản Quan họ - hiện tượng dị bản Cho đến nay không thể biết thật chính xác con số về làn điệu, cũng như lời ca Quan họ. Số lượng này luôn luôn biến đổi, khi tăng, khi giảm, bởi vì nhân dân không ngừng sáng tạo thêm những làn điệu và lời ca mới để ứng dụng trong những canh hát kéo dài thâu đêm suốt sáng (song song với quá trình gọt giũa, trau chuốt chúng về chất lượng nghệ thuật); mặt khác một số bài Quan họ kém chất lượng tất sẽ bị lu mờ dần qua thời gian thử thách, thậm chí có bài bị đào thải ngay sau khi vừa ra đời, vì ngay từ phút đầu nó đã không hề được sự hưởng ứng, sự công nhận của những "liền anh, liền chị" Quan họ.
    Số lượng âm điệu cơ bản (có nghĩa là không kể đến những dị bản) của dân ca Quan họ mà ngày nay chúng ta còn có thể khai thác (phụ thuộc phần lớn vào trí nhớ của nghệ nhân) là khoảng 174.
    Là nghệ thuận dân gian, dân ca Quan họ có đầy đủ tính truyền miệng và tính tập thể, tính truyền thống và tính sáng tạo, với sự tham gia chỉnh lý, cải biên của nhiều người, ở nhiều nơi, qua nhiều thế hệ trước sau, do đó mà nó có nhiều dị bản.
    Những dị bản trong dân ca Quan họ không phải chỉ có sự khác nhau về lời ca, về giai điệu âm nhạc, chúng còn có sự khác nhau về thang âm, về tiết tấu, về bố cục, về những thủ pháp sáng tạo.
    Những dị bản của dân ca Quan họ biểu hiện rất đa dạng:
    Một là, những vùng hoặc những làng Quan họ khác nhau có những cách ca hát Quan họ khác nhau. Tình trạng ấy bắt nguồn trước hết từ một thực tế là mỗi vùng Quan họ chịu một ảnh hưởng riêng trong quá trình giao lưu văn hoá văn nghệ khác với truyền thống của những vùng khác. Nhân dân mỗi vùng Quan họ thường không chỉ sinh hoạt văn hoá Quan họ. Ngoài dân ca Quan họ, họ thường còn sinh hoạt một đôi thể loại nghệ thuật âm nhạc khác như hát Ví, hát Tuồng, hát Chèo... Chẳng hạn nhân dân Thị Cầu, ngoài Quan họ, xưa kia còn hát Ví, hát Tuồng, nhân dân Ngang Nội, ngoài Quan họ, xưa kia còn hát Chèo. Trong điều kiện ấy, âm hưởng của Ví, của Tuồng không tránh khỏi ảnh hưởng tới tiếng hát Quan họ ở vùng Thị Cầu, âm hưởng của Chèo không thể không ảnh hưởng tới tiếng hát Quan họ ở vùng Ngang Nội.
    Thêm nữa, mỗi vùng Quan họ thường có một vài nghệ nhân Quan họ có tài năng sáng tạo và diễn xướng, giữ vai trò như những "con chim đầu đàn". Tài năng của những nghệ nhân đầu đàn này đã có ảnh hưởng không ít đến những nghệ nhân khác trong vùng, tạo nên một kiểu sáng tác và diễn xướng khá riêng biệt cho mỗi vùng Quan họ.
    Hai là, những cặp Quan họ khác nhau có những cách ca hát Quan họ khác nhau. Cách hát của mỗi nghệ nhân (hoặc mỗi cặp nghệ nhân) gắn liền với tài năng, thị hiếu riêng và vốn nghệ thuật của nghệ nhân ấy. Người này ưa hát luyến láy, đệm lót theo kiểu này, người khác lại thích hát ngắt câu, nhả chữ theo kiểu khác, phù hợp với ý muốn của mình, phù hợp với tiêu chuẩn thẩm mỹ mà mình tự đặt ra và nhằm đạt tới.
    Vốn nghệ thuật của những nghệ nhân Quan họ không phải là đồng điều. Nghệ nhân này thì vừa chơi Quan họ, vừa hát Ví nghệ nhân khác thì vừa chơi Quan họ lại vừa hát Tuồng. Ðiều đó đã góp phần tạo nên cho mỗi nghệ nhân Quan họ một cách hát Quan họ riêng.
    Ba là, những thế hệ Quan họ khác nhau có những cách ca hát Quan họ khác nhau. Thông thường, so với thế hệ già thì thế hệ trẻ hát Quan họ với tốc độ nhanh hơn, âm vực được mở rộng hơn, những tiếng phụ và tiếng đưa hơi được lược bớt...
    Bốn là, với một người Quan họ cũng có những cách hát khác nhau trong những thời kỳ khác nhau. Khi một nghệ nhân Quan họ hát nhiều lần một bài Quan họ nhất định, thì không có những lần hát hoàn toàn giống nhau. Những cách hát khác nhau qua những thời kỳ khác nhau của một nghệ nhân đối với một bài Quan họ nhất định, phụ thuộc từ những tình cảm và hứng thú đột biến, từ sức khoẻ thay đổi từng ngày liên quan đến khả năng lấy hơi và phát âm của nghệ nhân. Nhiều khi, đó là những trường hợp nằm ngoài ý thức sáng tạo của nghệ nhân Quan họ. Tuy nhiên, có rất nhiều trường hợp lần hát trước khác với lần hát sau là do tính sáng tạo có ý thức của nghệ nhân,
    Lề lối hát đối đáp theo trình tự (mà chúng ta đã biết) trong dân ca Quan họ hình thành ra sao, điều đó hẳn chưa ai biết rõ. Nhưng chắc chắn rằng sự ra đời của một tác phẩm dân ca Quan họ kỳ thuỷ phải do một "liền anh" hoặc một "liền chị" có tài năng sáng tác và biểu diễn. Nều bài ca được tập thể ưa thích, lập tức sẽ có người tìm học nó, để đến mùa hát sau, nó sẽ lại xuất hiện ở cửa miệng những người khác, và lần này nó ở dạng "biến tấu", không giống in hệt lần xuất hiện đầu tiên.
    Nói một cách khác, khi những bài dân ca Quan họ được cha mẹ truyền lại cho con cái, anh chị truyền lại cho các em, và bạn bè truyền lại cho nhau, thì sự tiếp thu của người học hát khó lòng được trọn vẹn. Hơn nữa, người học hát thường khi còn tự cho mình cái quyền thêm bớt, sửa đổi ít nhiều lời ca cũng như nhạc điệu của bài hát cho phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ của mình, phù hợp với tâm tư, hoàn cảnh của mình. Thêm vào đó, trong mọi dịp ca hát, và đặc biệt là khi hát thi lấy giải, các "liền anh, liền chị" luôn luôn cố gắng nhập tâm kịp thời những lời ca điệu hát của bạn, của "đối phương". Vì lòng danh dự không ai lại chịu đến xin học "đối phương" của mình. Sự nhập tâm vội vã, "chớp nhoáng" (do đó không đúng và không đủ như của "đối phương") đối khi đã làm một số ít câu, một số ít từ trở nên vô nghĩa và thông thường đã buộc những "liền anh, liền chị" phải sáng tạo thêm khi đoạn đầu, khi đoạn cuối bài hát (cả về âm nhạc lẫn lời ca) cho đủ câu, đủ đận. Có như vậy, ngoài việc sáng tạo thêm những bài Quan họ mới, người Quan họ mới nhanh chóng trang bị được cho mình một số vốn bài bản Quan họ cần thiết để tham gia thi hát trong những mùa hội sau. Tất cả tình hình này làm cho số di bản Quan họ ngày càng phong phú.
    Cũng như mọi tác phẩm nghệ thuận dân gian, quá trình sáng tạo một bài dân ca Quan họ là một quá trình vô tận. Ðiều này không phải chỉ vì ý nghĩa nó không giới hạn số lượng người tham gia vào công việc sáng tạo, ý nghĩa này có biểu hiện ở chỗ mỗi tác phẩm dân gian thực tế tồn tại không phải chỉ qua một "bản gốc" có mang tên tác giả hẳn hoi, mà ở số lượng không hạn chế những dị bản. Bất kỳ lần biểu diễn nào cũng không thể coi là kết quả cuối cùng trong quá trình sáng tạo một bài dân ca Quan họ.
    Không nhất thiết rằng tác giả của mọi bài dân ca Quan họ đều là vô danh. Ðối với một số bài dân ca Quan họ được sáng tác vào giai đoạn cuối (giáp năm 1945), người ta còn biết đến tên tác giả rõ ràng. Chẳng hạn, đó là nghệ nhân Tư La cùng nghệ nhân Cả Vịnh ở Thị Cầu đã sáng tác một loạt bài Quan họ như Con chim Thước, Chè mạn hảo, Ca đàn, Chia rẽ đôi nơi... Nhưng khồng vì những bài ca này có mang tên tác giả mà chúng mất đi tính chất sáng tác tập thể. Nó vẫn là sáng tác dân gian, bởi vì sau cụ Tư La và cụ Cả Vịnh thì những bác Tý, bác Bảo, bác Soạn, bác Hiển ... đã góp phần sáng tạo, cải biên của từng cá nhân mình khi diễn xướng những bài ca ấy trong nhiều đám hội hay nhiều canh hát Quan họ. Vấn đề quyết định không phải người sáng tác đầu tiên một bài hát Quan họ là ai, tên tuổi được xã hội biết đến hay không biết đến, mà là phương thức sáng tạo tập thể hay cá nhân, truyền miệng hay không truyền miệng, và trường hợp sử dụng bài ca ấy trong sinh hoạt của nhân dân hàng ngày. Vả chăng, nếu giờ đây không có những nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian kịp thời tìm hiểu và ghi chép lại xuất xứ cuả một số bài Quan họ ra đời muộn như những bài Quan họ vừa kể, thì chắc chắn những người ở những thế hệ sau cũng sẽ không thể nào biết được tên những tác giả và hoàn cảnh ra đời của nững bài Quan họ đó. Những bài Quan họ đó sẽ cùng chung một số phận với những bài Quan họ khuyết danh ra đời trước chúng.
    Những dị bản trong dân ca Quan họ bắt nguồn từ tài năng và thị hiếu riêng của nghệ nhân, từ quá trình tham gia hoạt động nhiều loại nghệ thuật của nghệ nhân, từ những truyền thống nghệ thuận hằng tồn tại ở địa phương mà nghệ nhân Quan họ làm ăn sinh sống.
    Tuy nhiên, sức sáng tạo nghệ thuật của mỗi cá nhân đóng góp vào tác phẩm có mãnh liệt đến đây đi nữa, thì sự sáng tạo ấy bao giờ cũng vẫn bị vai trò của truyền thống chi phối, nghệ nhân không thể sáng tạo vượt quá một giới hạn nhất định. Ðây chính là sự sáng tạo trên cơ sở của truyền thống.
    Truyền thống trong dân ca Quan họ chính là những hình tượng nghệ thuật thuộc phạm trù nội dung, những thủ pháp sáng tạo nghệ thuật tiêu biểu phù hợp với những tiêu chuẩn mỹ học dân gian được lặp đi lặp lại trải qua thời gian lâu dài, không tách rời những lề lối và thể thức sinh hoạt của nó. Truyền thống trong dân ca và trong sinh hoạt dân ca hết sức vững bền. Nhưng dù vai trò của truyền thống trong dân ca có to lớn đến đâu thì (cũng như vai trò của sức sáng tạo trước truyền thống) chúng cũng phải chịu những sự biến đổi không cưỡng nổi, chịu sự chi phối của những sáng tạo cá nhân (nằm trong tập thể dân gian). Ngược lại, sự sáng tạo của những cá nhân trong nghệ thuật dân gian, một mặt bị sức mạnh cố hữu của truyền thống chi phối, mặt khác chính nó lại tạo nên những nhân tố mới có thể tác động tích cực tới sự phát triển của truyền thống, làm biến đổi truyền thống. Những nhân tố mới này, nếu phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ của tập thể, được tập thể tiếp thu, nó sẽ có khả năng lại trở thành truyền thống, lại có tác dụng như là một kiểu mẫu nghệ thuận có sức mạnh cố hữu chi phối sự sáng tạo của cá nhân. Trong quá trình phát triển của dân ca Quan họ từ cổ đến kim, sự biến đổi là tất yếu, có những mặt này của tác phẩm bị mất mát, có những mặt khác lại nảy sinh.
    Nhiều người nghiên cứu văn nghệ dân gian đã nhấn mạnh đến hình thức ứng tác dân ca. ứng tác là hình thức sáng tạo "tức khắc", không được chuẩn bị trước về nội dung đề tài, về thủ pháp nghệ thuật. Nó đòi hỏi cá nhân sáng tạo nghệ thuật phải có vốn sống dồi dào và nắm vững kỹ thuật sáng tạo.
    Quả là trong nghệ thuật dân gian nói chúng, "ứng tác" là hình thức phổ biến, thậm chí là hình thức chủ yếu, nếu chúng ta hiểu rộng sự ứng tác ở đây bao hàm cả những hình thức sáng tạo nhằm tạo nên tính cách sinh động cho diễn xướng, đối với những tác phẩm đã có sẵn trong kho tàng nghệ thuật dân gian, trong vốn hiểu biết của nghệ nhân. Song riêng đối với dân ca Quan họ, tình hình lại không hẳn như vậy. Nếu không kể đến những bài Quan họ đã được sáng tác từ trước đã có sẵn, thì những "liền anh, liền chị" giàu tài năng có thể đã sáng tác "ngay tại chỗ" lời một bài Quan họ nào đó (theo thể lục - bát chẳng hạn) để ứng với một nhạc điệu Quan họ có sẵn, khi tình thế đòi hỏi phải đối phó với "đối phương" một cách kịp thời trong cuộc thi hát. Nhưng hầu như rất hiếm có ai (trong Quan họ cũng như toàn bộ cuộc sống nghệ thuật âm nhạc) lại có thể sáng tác được "ngay tại chỗ" một bài ca hoàn toàn mới cả về lời lẫn về nhạc, trừ khi đó là tác phẩm non kém về chất lượng nghệ thuật, yếu ớt về giá trị nội dung.
    Nói chung, những yếu tố của một bài dân ca Quan họ hầu như không bao giờ được tập thể dân gian phân công cho nhiều người phụ trách sáng tác, chẳng hạn người thứ nhất soạn lời, người thứ hai soạn nhạc, người thứ ba phối hợp mọi yếu tố nghệ thuật của tác phẩm. Trong sáng tác dân gian, mấy quá trình đều diễn ra đồng thời, qua sự sáng tạo của một cá nhân.
    Song cần phải nói rõ rằng: ở thời kỳ ngay trước tháng 8 năm 1945 thì quy trình sáng tác dân ca Quan họ đã bắt đầu có mầm mống của tính chất chuyên nghiệp. ở một đôi nơi, người Quan họ đã bắt đầu có sự phân công sáng tác: người này phụ trách sáng tác phần nhạc, người kia góp ý về phần lời, người thứ ba học hát và ứng dụng tác phẩm ấy trong những cuộc hát thi. Chúng ta hãy nhớ lại trường hợp xuất xứ của những bài Con chim Thước, Chè mạn hảo, Ca đàn, Chia rẽ đôi nơi, Ðêm qua nhớ bạn... ở đây cụ Tư La, cụ Cả Vịnh, cụ Sáu Tương không chỉ sáng tác theo bản năng mà sáng tác với ý thức sáng tạo, tìm tòi cái mới trong nghệ thuật. Người ta kể rằng khi thấy tất cả mọi bài Quan họ thuộc hệ thống Giã bạn đều chỉ nói đến nỗi lòng mong nhớ của mình đối với bạn Quan họ, cụ Tư La bèn sáng tác bài Chia rẽ đôi nơi, trong đó người Quan họ không hề nói đến nỗi lòng mong nhớ của mình, ngược lại tác giả đặt câu hỏi với bạn: "Chúng em giở ra về, liệu Quan họ có nhớ đến chúng em chăng?". Do phương thức sáng tác Quan họ đã bắt đầu có sự phân công, bắt đầu có mầm mống của tính chất chuyên nghiệp, cho nên tác phẩm Quan họ cũng đã có nhiều bóng dáng của nghệ thuật chuyên nghiệp.
    Và cũng như mọi nghệ thuật dân gian, nói chung, dân ca Quan họ là nghệ thuật tự biên tự diễn. Nó tồn tại không phải chỉ vì người nghe và người xem, mà nó tồn tại trước hết vì chính người sáng tác và biểu diễn. Một "liền anh" hay một "liền chị" Quan họ có thể rời bỏ rồi lại gia nhập cuộc hát vào bất cứ lúc nào nếu như có việc riêng cần thiết. ở đây, người sáng tác, người biểu diễn, người thưởng thức và người phê bình nghệ thuật là đồng nhất. Sự thống nhất giữa khách thể với chủ thể của hoạt động nghệ thuật, của cảm xúc thẩm mỹ là một trong những đặc tính nổi bật của dân ca Quan họ, của nghệ thuật dân gian.
    Nguyện đi với anh suốt con đường dài, dù cho khó khăn vẫn chờ ta phía trước

  18. 5 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới TheThuongNT cho bài viết hữu ích này:


  19. #19
    Truly Very Noob

    TheThuongNT's Avatar
    Ngày tham gia
    13-03-2010
    Đang ở
    Hải Phòng citi
    Bài viết
    3,790
    Thanks
    34,689
    Được THANKS 29,027 lần
    B - Những thể dạng hình thức cấu trúc điển hình
    Phần lớn những bài Quan họ đều ở dạng hát, như những bài [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ], [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] , [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ],[Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ], Buôn bấc buôn dấu, 36 thứ chim, Thơ thẩn tìm ai, Năm liệu bảy lo.... Chúng thường có tiết tấu rõ ràng, có nơi mở đầu và nơi kết thúc rành mạch. Nói chung, dân ca Quan họ có nhiều tính chất của những Ca khúc hơn là những làn điệu.
    Ngoài dạng hát là dạng phổ biến, dân ca Quan họ còn có những giọng thiên về dạng ngâm, như giọng Phú hoặc thiên về dạng nói, như Ðào nương.
    Lại có những bài Quan họ gồm đủ cả dạng hát, dạng nóidạng ngâm xen kẽ. Chẳng hạn đó là những bài Năm canh, Năm cung, Bảy cung... do những nghệ nhân Quan họ ở nhiều làng khác nhau hát.
    Trường hợp tương đối phổ biến là những bài Quan họ xen kẽ thể ngâm (bỉ) với thể hát. Chẳng hạn đó là những bài Nam nhi,
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ]
    [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ], Em là con gái Bắc Ninh, Tiên sa xuống cõi trần chơi... Dạng ngâm thuần tuý chỉ mới thấy ở bài Rủ nhau đi gánh nước thuyền.
    Những hình thức ấu trúc phổ biến của một bài dân ca Quan họ là:
    Thân bài (gồm nhiều trổ nhạc): Chia rẽ đôi nơi ... Thân bài + Kết bài (Ðổ): Ngồi tựa mạn thuyền ...
    Mở bài (nhiều khi là ngâm Bỉ) + Thân bài: Gọi đò ...
    Mở bài + Thân bài + Kết bài: Em là con gái Bắc Ninh ...
    Ngoài ra, có đôi hình thức cấu trúc đặc biệt:
    Toàn bài Quan họ không chia thành những trổ nhạc cân xứng như những điều Quan họ cổ: La rằng, Tình tang. Lắp ghép những đoạn nhạc mang nhiều màu sắc tương phản (về thể dạng, về điệu thức, về tiết tấu...) như những bài Năm cung, Mười cung, Tay nâng cơi đựng giầu...
    Khảo sát về mở bài Mở bài là phần xuất hiện trước phần Thân bài. Nó có thể là dạng ngâm như giọng Bỉ, nó cũng có thể là dạng hát có nhịp phách rõ ràng. Nó không thể tồn tại độc lập mà gắn bó mật thiết với Thân bài.
    Phần Mở bài của dân ca Quan họ nhiều khi ở dạng ngâm. Nó thường tương ứng với 3 vế của lời ca thể lục bát (tức 3 câu lục - bát - lục) như ở những bài Lên núi Ba Vì do cụ Lượng và cụ Sĩ ở Xuân ổ hát, Nên chăng cầm sắt vân vi do cụ Phục và cụ Hiển ở Bò Sơn hát. Ðôi khi nó chỉ tương ứng với một câu lục như ở những bài Mây Tần một giải xanh xanh do cụ Lượng và cụ Sĩ ở Xuân ổ hát, yêu nhau thì lấy được nhau do cụ Giàng ở Ðào Xá hát, Người về để nhện dăng mùng do phần lớn nghệ nhân ở Ngang Nội hát.
    Trong trường hợp phần Mở bài là dạng ngân Bỉ, nó thường cách biệt với phần Thân bài, ví như ở bài [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] . Ðôi khi phần Mở bài bao gồm cả dạng ngâm cả dạng hát, phần ở dạng hát được trích từ Thân bài, ví như ở bài Nam nhi. ở bài Nam nhi, phần Mở bài cũng như xâm lấn cả một phần khúc (trổ) thứ nhất của Thân bài (phần đầu khúc bị triệt tiêu). Trong trường hợp này, phần cuối khúc thứ nhất có tác dụng như một cầu nối (Pront) chuyển tiếp tới Thân bài. Mở bài của bài Nam nhi gồm cả 3 vế lời ca lục - bát - lục.
    Trong trường hợp phần Mở bài là dạng hát, nó luôn được rút ra từ chất liệu âm nhạc của Thân bài. Nó có thể dài như phần Mở bài của bài Trèo non lội suội do cụ Tam ở Ngang Nội hát, hoặc bài Ba bốn chiếc thuyền kề do cụ Tần và cụ Tập ở Viêm Xá hát. Nó cũng có thể rất ngắn như phần Mở bài của bài Lòng vẫn chờ chờ do bà Tẩu ở Ngang Nội hát, hoặc bài Lúc túng cũng liều do cụ Tần hát.
    Khảo sát về thân bài
    Thân bài (hay Ruột bài) là phần chính của một bài Quan họ. Thân bài nói chung gồm nhiều khúc (hoặc trổ, đận - theo cách nói dân gian) tương xứng. Trong nhiều trường hợp, nó xuất hiện sau phần Mở bài (nếu có phần Mở bài) và trước phần kết bài (tức là câu Ðổ).
    Thông thường, phần Thân bài gồm khoảng 3 đến 5 khúc tương xứng với nhau về mặt âm nhạc. Trên căn bản, giữa các khúc có sự cân xứng tương đối về đồ dài, giống nhau về dạng điệu thức và dạng tiết tấu. Sự khác nhau giữa các khúc về mặt âm nhạc chủ yếu là do những thanh điệu (dấu giọng) của ngôn ngữ, những biến hoá của thể lời ca gắn chặt với những tiếng đệm lót nằm trong mỗi khúc. Thân bài nói chung có nhiều đặc điểm của bài hát (ca khúc) hơn là đặc điểm của làn điệu. Khác với Mở bài và Kết bài, riêng Thân bài có thể tồn tại độc lập.
    Nếu phần Mở bài là một cặp lời lục - bát (đây là trường hợp ít thấy) hoặc bài ca không có phần Mở bài, thì mỗi khúc hát của phần Thân bài thường cũng là một cặp lời lục - bát, hoặc khúc trước là một câu lục, khúc sau là một câu bát... Nếu phần Mở bài là một câu lục hoặc là ba vế lục - bát - lục, thì mỗi khúc hát của phần Thân bài thường là hai vế bát - lục.
    Giữa Thân bài và Mở bài (ở dạng ngâm Bỉ), đôi khi có một nét nhạc ngắn có tác dụng như một cầu nối, như ở bài[Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] hoặc như ở bài [Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ][Chỉ thành viên đăng ký mới nhìn thấy link. ] theo cách hát của làng Ngang Nội.
    Khảo sát về kết bài
    kết bài (hay Ðổ) là phần xuất hiện sau Thân bài. Kết bài là nét nhạc đem lại cho người nghe cảm giác kết thúc bài ca trong trường hợp phần Thân bài chưa đem lại được cảm giác kết thúc. Cũng như Mở bài, Kết bài không thể tồn tại độc lập. Bao giờ nó cũng có Thân bài đứng trước.
    Phần Kết bài có khi là hư từ, có khi là thực từ, có khi chỉ ngắn 2 - 3 nhịp, có khi dài tới 15 - 16 nhịp.
    Kết bài có thể gắn bó chặt chẽ với Thân bài, không thể tách rời Thân bài, như trong những bài Nhác trông phong cảnh lạ thay, Trèo lên cây gạo; nó cũng có thể như một bộ phận lắp ghép thêm sau Thân bài, tách rời Thân bài, như trong bài Ðương bạn.
    Cũng như phần Mở bài có khi như xâm lấn cơ cấu phần Thân bài (nửa đầu của khúc hát thứ nhất bị triệt tiêu), trong nhiều trường hợp phần Kết bài cũng xâm lấn vào cơ cấu khúc hát cuối của Thân bài (nửa sau của khúc hát cuối bị triệt tiêu).
    Hình thức Kết bài có khi là một nét nhạc lặp lại nguyên vẹn hoặc lặp lại có biến hoá nét nhạc cuối khúc ca, có khi là một nét nhạc được rút từ chất liệu âm nhạc Thân bài.
    Thông thường, âm nhạc phần kết bài có nhịp phách rất rõ ràng, nó ở dạng hát. Cũng có đôi khi rất đặc biệt, nó ở dạng ngâm.
    Có nhiều trường hợp, phần kết bài ở cùng dạng điệu thức với phần Thân bài, nói cách khác là từ phần Thân bài sang phần kết bài không có hiện tượng chuyển điệu. Nhiều trường hợp khác nó không cùng một điệu thức với Thân bài, đó là hiện tượng chuyển giọng, chuyển điệu hoặc chuyển hệ trong Quan họ.
    Nguyện đi với anh suốt con đường dài, dù cho khó khăn vẫn chờ ta phía trước

  20. 5 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới TheThuongNT cho bài viết hữu ích này:


  21. #20
    Truly Very Noob

    TheThuongNT's Avatar
    Ngày tham gia
    13-03-2010
    Đang ở
    Hải Phòng citi
    Bài viết
    3,790
    Thanks
    34,689
    Được THANKS 29,027 lần
    C - Mối quan hệ giữa âm nhạc với hình thức lời ca
    1 - Những trường hợp điển hình
    Trong âm nhạc Việt Nam, nguyên tắc thông thường là nét nhạc tuỳ theo thanh điệu mà lên bổng xuống trầm. Âm nhạc Quan họ cũng không nằm ngoài nguyên tắc ấy.
    Theo truyền thống, tiếng Việt có 6 thanh điệu. Trừ thanh không dấu, còn 5 thanh khác, mỗi thanh mang tên của dấu ghi thanh ấy. Cao độ khác nhau, hay những đặc trưng về âm vực là những nét đầu tiên không thể thiếu được, khu biệt các thanh điệu.
    Về âm vực, các thanh có âm vực cao là "không dấu", "ngã", "sắc". Các thanh thuộc âm vực thấp là "huyền", "hỏi", "nặng".
    Về âm điệu, các thanh có âm điệu bằng phẳng, hay còn gọi đơn giản là bằng, gồm có "không dấu", "huyền"; các thanh có âm điệu không bằng phẳng hay còn gọi là trắc, gồm có "ngã", "sắc", "hỏi", "nặng". Thanh "ngã", "hỏi" có đường nét phức tạp. Dùng nốt nhạc để ghi các thanh này, muốn bảo đảm tính chất trung trực, nhất thiết phải dùng tới hai nốt; trong khi đó, muốn ghi 4 thanh còn lại, có thể chỉ cần dùng một nốt cho mỗi thanh.
    Với dân ca Quan họ cũng như với phần lớn dân ca của người Việt, âm nhạc thường là ứng với thể lời ca lục - bát.
    ở thể lục - bát, trong câu lục, những tiếng thứ hai, thứ tư, thứ sáu và trong câu bát, những tiếng thứ hai, thứ tư, thứ sáu, thứ tám thường phải theo một quy luật nhất định: bằng bằng trắc trắc bằng bằng, bằng bằng trắc trắc bằng bằng trắc bằng.
    Những tiếng thứ nhất, thứ ba, thứ năm của câu lục, và cả tiếng thứ bảy của câu bát, có thể là thanh bằng hoặc thanh trắc. Tiếng thứ hai của câu lục và câu bát có thể là thanh trắc:
    - Người quốc sắc, kẻ thiên tài...
    - Có sáo thì sáo nước trong,
    Ðừng sáo nước đục đau lòng cò con.

    Tiếng thứ sáu và tiếng thứ tám của câu bát, tuy cùng là ở thanh bằng, nhưng chúng không giống nhau: nếu tiếng thứ sáu thuộc thanh không dấu tức là bằng - cao, thì tiếng thứ tám thuộc thanh huyền tức là bằng - thấp, và ngược lại:
    - Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
    - Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.
    Trong thơ ca lục - bát, những thanh bằng, trắc, bằng - cao, bằng - thấp luôn xuất hiện thay thế nhau, làm cho đường nét câu thơ trầm bổng êm tai. Giả thử chỉ chú ý đến những tiếng thứ hai, thứ sáu và thứ tám của thơ ca lục - bát mà thanh điệu gần như cố định, chúng ta đã đủ nhận thấy nhiều biến dạng khác nhau. Những hình dưới đây sẽ nói lên những biến dạng đó, nếu chúng ta dùng chữ B để chỉ thành bằng - cao, b để chỉ thanh bằng - thấp, T để chỉ trắc - cao (sắc, ngã), t để chỉ trắc - thấp (hỏi, nặng), và nếu chúng ta dùng 3 dòng để tượng trưng 3 giọng trần (huyền, nặng, hỏi), ngang (không dấu), bổng (sắc, ngã) dùng gạch - ngang để biểu thị thanh bằng, mũi nhọn để biểu thị thanh trắc:
    BTB Ngày xuân con én đưa thoi. bTB Hoa cười ngọc thốt đoan trang.
    BTb Lơ thơ liễu buông mành.
    bTb Sè nắm đất bên đường.
    BtB Thương sao cho vẹn thì thương.
    btB Một nhà sum họp trúc mai.
    Btb Sá chi thân phận tôi đòi.
    btb Tính rằng cách mặt khuất lời.
    Ðối với câu bát, ta chỉ cần thêm vào tiếng thứ tám một thành bằng khác với thanh bằng ở tiếng thứ sáu:
    BTBb Sầu tuôn đứt nối châu sa vắn dài. bTBb Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
    BTbB Trời xanh quen thóihồng đánh ghen.
    bTbB Thác thể phách còn tinh anh.
    BtBb Hỏi quê rằng huyện Lâm Thanh cũng gần.
    btBb Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình.
    BtbB Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
    btbB Thuý Kiềuchị em Thuý Vân.
    ở trên, chúng tôi vừa nói đến nguyên tắc thông thường. Song trong âm nhạc Quan họ, nguyên tắc thông thường vừa nói đôi lúc bị phá vỡ. Khi cần thiết phải bảo vệ tính nhất quán về âm nhạc giữa các khúc ca, hoặc bảo vệ vẻ đẹp của giai điệu, nghệ nhân Quan họ đã không ngần ngại sử dụng những cung nhạc ngược chiều hướng với thanh điệu của ngôn ngữ. Tại Việt Nam, ở nhiều loại dân ca khác của người Việt như Trồng quân, Cò lả, hát Ví, hát Ru..., mỗi khúc hát thường tương ứng trọng vẹn với một cặp lời ca lục - bát. Tình hình thực tế trong dân ca Quan họ không đúng hẳn như vậy. Mỗi khúc hát của một bài ca Quan họ có thể tương ứng với 6 tiếng của lời ca chính (tức câu lục).
    Khi mỗi khúc ca gồm 8 tiếng của lời ca chính thì 8 tiếng của lời ca trong khúc có thể là từng về (lục hoặc bát) của cặp lời lục - bát. Trong trường hợp này, hoặc là vế lục được hát thêm 2 tiếng đầu câu bát (vế dưới) cho đủ 8 tiếng, hoặc là trong câu lục có hai tiếng được nhắc lại.
    Trong trường hợp mỗi khúc hát tương ứng với một vế của cặp lời lục - bát mà câu lục ở đây không được hát nhắc lại đôi từ hoặc hát thêm đôi từ của câu bát (vế dưới), thì âm nhạc khúc hát tương ứng với câu lục và âm nhạc khúc hát tương ứng với câu bát thường không hoàn toàn giống nhau.
    Sự biến đổi về số lượng phách của khuôn nhịp nhiều trường hợp nằm trong một quy luật rất chặt chẽ. Chẳng hạn như trong bài Năm liệu bảy lo do cụ Tý hát, ở tất cả mọi khúc nhạc tương ứng với câu lục, ngoài những nhịp 4/8 thì nhịp thứ bảy bào giờ cũng là nhịp lẻ 3/8, còn ở tất cả mọi khúc nhạc tương ứng với câu bát thì ngoài những nhịp 4/8, nhịp thứ tám bao giờ cũng là nhịp 3/8 và nhịp thứ mười là nhịp 2/8.
    Hình thức tương đối phổ biến là mỗi khúc hát Quan họ tương ứng với một cặp lời ca lục - bát, câu lục được hát trước câu bát.
    Có nhiều trường hợp, một khúc hát Quan họ đã bao gồm một cặp hai vế lời ca lục - bát, lại được hát trước vế lục của cặp lục - bát thuộc khúc hát sau. Như vậy là mỗi câu lục trong bài hát được hát tới 2 lần, 2 lần khác nhau về mặt âm nhạc. Hình thức này không loại trừ những biến thể của lời ca lục - bát.
    Thể lời ca bảy tiếng bốn tiếng hầu như rất hiếm trong dân ca Quan họ. Những thể ấy như cũng chỉ thấy trong một số bài Quan họ có nguồn gốc từ những loại nghệ thuật bên ngoài như bài Kiếp phù thế, giọng Ðào nương hay bài Trăm khúc sông, giọng Lý.
    Một số ít bài Quan họ không được phân chia thành những khúc nhạc cân xứng, lời ca ở thể văn tự do, câu dài câu ngắn, chẳng hạn như những bài Mười nhớ, Cái cơi đựng giầu, Tương phùng tương ngộ...
    Nguyện đi với anh suốt con đường dài, dù cho khó khăn vẫn chờ ta phía trước

  22. 5 thành viên sau đây đã bấm nút Thanks (gửi lời cảm ơn) tới TheThuongNT cho bài viết hữu ích này:


Trang 2 của 4 Đầu tiênĐầu tiên 1234 CuốiCuối

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •